những vì sao của một thời tuổi thơ

Phạm Tín An Ninh

Thời học trung học, tôi có người bạn thân, không những tướng tá mà cả cái tên cũng đẹp: Phan Ái Minh. Hai đứa học chung trường. Minh học Ban B và trước tôi một lớp, còn tôi dốt toán nên học Ban C. Vì vậy mà bạn còn là “ông thầy” kèm toán cho tôi. Nhà Minh ở trên Thành (Diên Khánh), cách thành phố Nha Trang, nơi có ngôi trường Võ Tánh của bọn tôi hơn mười cây số. Minh cùng người anh thuê căn nhà nhỏ trong một con hẻm ở gần đình Phương Sài để trọ học. Mỗi chiều Thứ Sáu, sau khi tan trường, hai anh em đạp xe về thăm nhà đến chiều Chủ Nhật lại ca bài đường trường xa trở lại Nha Trang, mang theo thức ăn cho một tuần sau đó. Tôi cũng từ một vùng quê khác vào Nha Trang học, ở nhà ông chú, một tiệm buôn giữa trung tâm thành phố. Để tránh ồn ào và khỏi bị sai vặt, tôi thường đạp xe lên nhà Minh vừa chơi vừa học. Có khi tôi ngủ lại hoặc cuối tuần theo anh em Minh về thăm quê bên kia Cổ Thành Diên Khánh.

Minh luôn hãnh diện khoe với bọn tôi về quê hương “Cổ Thành”. Anh thường gọi đó là “la Citadelle” và gần như thuộc lòng sử tích: “được chúa Nguyễn Phúc Ánh xây từ thế kỷ 17 và lần lượt do các ông Nguyễn Văn Thành và Võ Tánh trấn thủ. Võ Tánh là một dũng tướng bất khuất, sau này đã tự thiêu tuẫn tiết trước khi thành Bình Định lọt vào tay tướng Trần Quang Diệu của Tây Sơn. Có lẽ vì vậy mà ngôi trường trung học lớn nhất miền duyên hải của chúng ta mang tên Võ Tánh, để nêu gương sĩ khí cho đám học trò.” Minh còn đọc đi đọc lại bài thơ của công chúa Ngọc Du khóc phu quân tướng công Võ Tánh, làm bọn tôi thuộc nằm lòng cho đến mãi bây giờ:

Những tưởng ra tay giúp nước nhà

Ai dè binh địa nổi phong ba.

Xót người vị quốc liều thân ngọc,

Khiến thiếp cô phòng ủ mặt hoa.

Gối mộng mơ màng duyên nợ cũ,

Đài mây xiêu lạc phách hồn xa.

Lửa trung đốt đỏ gương hào kiệt,

Nóng ruột thuyền quyên giọt lệ sa!

Có lẽ chính quê hương Cổ Thành và hình ảnh dũng tướng Võ Tánh in rất đậm trong trí óc và tâm hồn Minh từ thuở ấu thơ, đã hun đúc trong Minh một mẫu người lý tưởng sau này.

( trên) cổ thành Diên Khánh

Đọc tiếp…

Share and Enjoy:
  • Digg
  • Sphinn
  • del.icio.us
  • Facebook
  • Mixx
  • Google
  • StumbleUpon
  • blogmarks
  • Technorati
  • De.lirio.us
  • Gwar
  • Reddit
  • YahooMyWeb

trang bạn hữu - thơ phan thị ngôn ngữ



Cõi thăng trầm hưng phế

Con về - nhà ngoại xưa đổ nát
Cây sanh si đã cỗi táng già,
Cội bồ đề gốc nẻ đôi ba
Rễ chạy rong trên nền sân vỡ

Mái ngói âm dương nằm yên thở
Lắng nghe đời mưa gió trầm kha
Bao thăng trầm hưng phế đi qua
Rêu ở lại từng viên gạch cũ

Năm tháng ngoằn nghoèo lên sập gụ
Màu thời gian loang lổ tuổi đời
Những đoạn lìa ly tán đầy vơi
Ngoại đi xa chưa lần trở lại

Nắng tháng hai hanh khô vườn cải
Mưa tháng mười úng ngập bờ tre
Bàn cờ xưa tướng sĩ tượng xe
Giờ sót lại vài con tốt thí

Đêm đêm trong nếp nhà cũ kỹ
Gỗ mọt kêu xiên suốt canh dài
Tiêng thạch sùng chắt lưỡi gọi ai
Như ái ngại điều không thể nói

Những tấm trướng - hoành phi - liễn đối
Ôm cột kèo ngó sững buồn thiu
Khay tráp bút - nghiên mực giấy điều
Lủi thủi co mình trên nóc tủ

Dăm bộ tứ thư - pho đại tự
Cũng hẩm hiu côi cút lặng nằm
Bao năm rồi con trở về thăm
Nghe muối xát dầm chan lòng trẻ

Nhớ xưa - câu Đường thi bước khẽ
Quanh nhịp võng đưa - chỗ ngoại nằm
Nắng thập thò chải tóc hoa râm
Bóng hoàng hạc đậu tờ thơ cổ

Điệu Nam Ai chèo khua mái vỗ
Thuyền dô hò khoan họ hò khoan
Đường chinh phu quan tái dặm mòn
Lòng cô phụ theo dòng trăng chảy

Ngoại tấu Vân Tiên - ngâm Kiều lẩy
Gõ trống chầu hát bội đình xa
Những đêm trăng trải chiếu sân nhà,
Chén trà sen luận bàn thế sự

Đinh Lê Lý Trần…dày trang sử
Hai châu Ô Lý…rộng sơn hà,
Bao năm rồi ngoại bỏ đi xa
Cõi nhà xưa ba gian trống trải

Như hạc vàng đi không trở lại
Mặc non cao núi thẳm giang đầu
Mặc cuộc đời dâu biển biển dâu
Mặc thế sự thăng trầm hưng phế.

Phan Thị Ngôn Ngữ

Share and Enjoy:
  • Digg
  • Sphinn
  • del.icio.us
  • Facebook
  • Mixx
  • Google
  • StumbleUpon
  • blogmarks
  • Technorati
  • De.lirio.us
  • Gwar
  • Reddit
  • YahooMyWeb

đằng sau cuộc chiến

Phạm Tín An Ninh

Cuộc chiến ba mươi năm kết thúc, nhưng chỉ làm cho đất nước điêu linh, dân tộc khốn cùng, kéo theo bao chia ly tan tác. Trước tháng 4/1975 hầu hết những người trai trẻ miền Nam là lính chiến. Nếu may mắn sống còn qua thời lửa đạn, cũng từng phải khốn cùng trong ngục tù cộng sản sau ngày bại trận oan khiên. Ra tù, tứ tán trôi dạt muôn phương, ngỡ không bao giờ còn gặp lại bạn bè đồng đội cũ. Vậy mà dường như đất trời thương xót, hồn thiêng sông núi chở che, run rủi bao cuộc trùng phùng bất ngờ, cảm động, như họ vừa cùng tái sinh ở một thế giới nào khác.

Tôi gặp lại Hà văn Kỳ trong tình huống ấy. Anh trung sĩ trẻ từng làm trung đội phó cho tôi khi vừa mới ra trường. Người Bắc di cư, nhỏ hơn tôi ba tuổi. Có lẽ nhờ lớn lên ở thành phố Đà Lạt sương mù thơ mộng và bên những vườn hoa, sản nghiệp của bố mẹ, nên Kỳ được hun đúc bao nét đẹp thánh thiện. Chân thật hiền lành, lễ phép, sống theo mẫu mực của một người Ki- tô hữu ngoan đạo. Học hành chăm chỉ nhưng chẳng may bị bệnh kéo dài, phải bỏ cả hai kỳ thi tú tài, nên bị động viên vào trường Hạ Sĩ Quan Đồng Đế. Ra đơn vị đã hơn một năm, nhưng đời sống quân ngũ và khói lửa chiến trường chưa làm thay đổi được tính nết quá mềm yếu, hiền lành. Đôi lúc tôi phải quát tháo, bởi Kỳ quá dễ dãi với lính, ngay cả những lúc cần phải cứng rắn, quyết liệt trước họng súng của kẻ thù. Nhưng rồi sau đó tôi lại thấy tội nghiệp, nên thường khuyên lơn, vỗ về an ủi. Kỳ cũng rất quí tôi, dành cho tôi không những tình đồng đội mà cả lòng yêu thương của tình huynh đệ. Kỳ làm đám cưới trước khi ra đơn vị. Bà xã là con gái một ông bà bạn vong niên của bố mẹ Kỳ từ ngày còn ngoài Bắc, cùng di cư vào Nam và chọn thành phố Đà Lạt làm quê hương mới. Biết vậy, nên thời gian nghỉ quân ở Di Linh, tôi thường lén cho Kỳ “dù″ về Đà Lạt thăm vợ một vài hôm. Trước đó, tôi cũng thường khuyến khích và giúp đỡ Kỳ tiếp tục tự học thêm khi thời gian thuận tiện. Chịu khó và chăm chỉ. Gần đến kỳ thi, Kỳ nhờ tôi năn nỉ xin ông tiểu đoàn trưởng cho nghỉ phép đặc biệt một tháng để chuẩn bị bài vở. Trở lại đơn vị, với một tin mừng: đỗ tú tài hạng bình thứ. Kỳ làm đơn xin theo học khóa sĩ quan. Chưa nhận được lệnh gọi thì đã bị thương trong một cuộc hành quân. Khi đưa Kỳ ra một chiến thuyền của Hải Quân để tản thương, tôi nắm chặt tay Kỳ, lòng nhói đau, khi thấy Kỳ nhìn tôi với dòng nước mắt lăn trên gò má còn bám đầy bụi đất.

Đọc tiếp…

Share and Enjoy:
  • Digg
  • Sphinn
  • del.icio.us
  • Facebook
  • Mixx
  • Google
  • StumbleUpon
  • blogmarks
  • Technorati
  • De.lirio.us
  • Gwar
  • Reddit
  • YahooMyWeb

trang bạn hữu - thơ Cung Vĩnh Viễn

NHỮNG CHUYẾN  ĐI


Nghe nói mai này em lại đi

hình như em có hẹn hò chi

dòng sông khi uốn mình ra biển

đã chở bao nhiêu những ước thề.


Em thấy thiên nhiên đẹp thế nào

khung trời lấp lánh những vì sao

bao nhiêu những linh hồn vô nhiễm

đã lạc trần gian một kiếp sầu.


Rồi những hoàng hôn nhuộm sắc hồng

con tầu quay mũi hướng biển đông

những làn sóng bạc xô nhau tới

có giống vành hoa tang chế không?


Và những kinh thành ánh sáng kia

đêm đêm rực rỡ ánh đèn khuya

những giàn hòa tấu vang danh tiếng

nghĩa lý gì khúc Hậu đình hoa.


Em đã đi xa đã thấy nhiều

đã tìm ra nghĩa của tình yêu

đời bao nhiêu thứ tìm không thấy

cái thấy hình như tựa bóng chiều.


Ơi những chiều rơi xuống cuộc đời

chắc gì em nhớ nổi trò chơi

đi tìm đi trốn trong vườn nhỏ

anh cố tình cho bị bắt thôi.


Em đi đuổi bóng trong vườn mộng

tội quá vườn xưa bé cỏn con

vườn nhỏ nên ta còn gặp được

càng  mênh mông thế rộng cô đơn.


Chiều nay nếu có dừng chân lại

nhìn trời nhìn biển ngó hư không

phải chi thấy được em đang khóc

chắt xuống đời ta giọt não nùng.


Cung Vĩnh Viễn

Share and Enjoy:
  • Digg
  • Sphinn
  • del.icio.us
  • Facebook
  • Mixx
  • Google
  • StumbleUpon
  • blogmarks
  • Technorati
  • De.lirio.us
  • Gwar
  • Reddit
  • YahooMyWeb

Song Vũ và bút ký “Sau Cơn Binh Lửa”

Phạm Tín An Ninh

Cuộc chiến đã chấm dứt gần bốn mươi năm. Thời gian đủ để chôn xóa tất cả mọi dấu tích bom đạn trên quê hương, nhưng vẫn chưa mờ nhạt trong ký ức và làm lành được vết thương trong lòng những ai từng tham dự hoặc chịu nhiều hệ lụy từ cuộc chiến ấy. Đặc biệt, những người lính miền Nam, một thời chiến đấu can trường, sẵn sàng hy sinh cho đất nước, để rồi bất ngờ phải nhận chịu thân phận kẻ bại trận trong đớn đau tức tưởi.

Từ nỗi oan khiên đó, trong suốt thời gian qua , đã có đông đảo những người lính trong mọi quân binh chủng viết về cuộc chiến, phân tích các nguyên nhân thắng bại hoặc kể lại những năm tháng hào hùng với biết bao chiến công hiển hách, ngỡ như không thể có ngày phải bàng hoàng buông súng. Đa số trong họ không phải là nhà văn, hoặc muốn trở thành nhà văn. Họ cầm bút chỉ để viết ra, giải tỏa những điều ẩn ức theo tháng năm đè nặng trong lòng. Viết để chia sẻ với những đồng đội cũ hầu cùng nhau tìm lại những kỷ niệm kiêu hùng của một thời trai trẻ, sẵn sàng chết cho quê hương. Viết để phân tích tìm hiểu những nguyên nhân nào đã đưa cuộc chiến đến một kết thúc đau lòng. Và cũng để cho con cháu - thế hệ ít nhiều bị hệ lụy từ cuộc chiến ấy - hiểu được tinh thần, khả năng chiến đấu của cha ông, và vì sao đã có một ngày 30 tháng 4 buồn thảm.

Trong số những cây bút ấy, thỉnh thoảng chúng ta đọc được một số bài viết của tác giả Song Vũ. Một cái tên còn khá xa lạ, nhưng có lẽ ai cũng rất thích thú và nhận ra những giá trị đặc biệt ở các bài viết của ông. Không phải chỉ ở cách hành văn, mà còn ở sự trung thực, sống động cùng những nhận định sâu sắc, độc đáo mà chúng ta không tìm được ở nhiều tác giả khác. Một trong những nguyên nhân dẫn tới thành công:  tác giả là người trong cuộc, luôn có mặt trong các trận chiến với những quyền hạn,  trách nhiệm trực tiếp. Vì vậy, ngoài tính trung thực được xác tín, tâm hồn tác giả cũng chan hòa theo từng dòng chữ, từng sự kiện, đã tạo cái hồn cho các bài viết.

Song Vũ là bút hiệu của cựu Trung Tá Ngô Văn Xuân, xuất thân Khóa 17 Võ Bị QGVN. Trong suốt 13 năm  binh nghiệp, ông đều ở các đơn vị tác chiến, và liên tục trải qua hầu hết các chức vu chỉ huy từ cấp trung đội, đại đội, tiểu đoàn đến trung đoàn, ngoại trừ những thời gian theo học các khóa tham mưu, dưỡng thương và gần một năm giữ chức vụ Trưởng Phòng 3 (Hành Quân) Sư Đoàn.  Trước tháng 4/1975,  ông là Trung Đoàn Trưởng Trung Đoàn 44/ SĐ23BB, đơn vị ưu tú đã tạo nhiều chiến tích lẫy lừng, góp phần  giữ vững được Kontum -Tây Nguyên trong Mùa Hè Đỏ Lửa 1972. Ngoài khả năng lãnh đạo chỉ huy, đảm lược, ông còn nổi tiếng là một vị chỉ huy trẻ, đạo đức, thanh liêm, bình dị, luôn được tất cả mọi thuộc cấp thương yêu, kính phục.  Ông  sống chết cùng đơn vị cho tới giờ phút cuối cùng. Sau khi miền Nam thất thủ, bị giam cầm trong nhà tù CS trên 13 năm, ông sống còn qua nhiều cơn bệnh thập tử nhất sinh, nhờ vào tình thương yêu của bạn tù và ông tin có sự nhiệm mầu nào đó.

Qua tập bút ký dày 510 trang, người đọc sẽ nhìn thấy rõ hơn con người , tâm tư, cũng như lòng trắc ẩn của tác giả.

Mở đầu cuốn sách, tác giả đã mượn lời của Erich Maria Remarque, lời tựa trong tác phẩm All Quiet On The Western Front ( Mặt Trận Miền Tây Vẫn Yên Tĩnh) để nói lên suy nghĩ và mục đích khi khai sinh tác phẩm của minh:

“Cuốn sách này không phải là sự buộc tội, cũng không phải là sự thú tội, lại càng không phải là một cuộc phiêu lưu; bởi vì những ai đã từng đối mặt với cái chết thì chẳng ai phiêu lưu đi tìm nó cả. Cuốn sách chỉ đơn giản là nói về một thế hệ những con người, cho dù đã thoát ra khỏi lằn tên mũi đạn, cũng đã bị hủy diệt mất rồi.”

Và trong “Lời Thưa” thay cho lời tựa, tác giả cũng “thưa” thêm:

Tuổi đời chồng chất, sức khỏe và những hăng say của tuổi thanh xuân ngày càng nguội dần. Tôi thấy cuộc sống mình hụt hẫng hoang mang. Mỗi năm lại vắng thêm đồng đội và rồi một ngày nào đó, cũng sẽ tới lượt chính mình. Điều tự nhiên đó, thực chất chẳng phải là nỗi ưu tư bởi vì đó là quy luật. Nhưng điều làm tôi suy ngẫm là ý nghĩa về cuộc đời của chính mình, thế hệ của chúng tôi, qua những việc đã làm, những đau thương đã trải, thực sự là gì? Hoặc chẳng là gì hết ?

Đọc tiếp…

Share and Enjoy:
  • Digg
  • Sphinn
  • del.icio.us
  • Facebook
  • Mixx
  • Google
  • StumbleUpon
  • blogmarks
  • Technorati
  • De.lirio.us
  • Gwar
  • Reddit
  • YahooMyWeb

trang bạn hữu - bút ký Song Vũ

Đọc lại Remarque
nghĩ về một thời chinh chiến

Song Vũ

“This book is to be neither an accusation nor a confession, and at least of all an adventure, for death is not an adventure to those who stand face to face with it. It will try simply to tell of a generation of men who, even though they may have escaped (its) shells, were destroyed by the war.”

Erich Maria Remarque
(ALL QUIET ON THE WESTERN FRONT)*

Một

We are at rest five miles behind the front. Yesterday we were relieved, and now our bellies are full of beef and haricot beans. We are satisfied and at peace.”

Chúng tôi đang nghỉ dưỡng quân sau tuyến đầu 5 dặm. Ngày hôm qua chúng tôi đã được thay quân để rút về phía sau. Giờ đây chúng tôi đang no cành hông với món thịt bò bít tết và đậu hầm. Chúng tôi thật thoải mái và bình yên.

Remarque đã mở đầu cuốn chuyện với những dòng như vậy. Hiện tôi đang cầm cuốn sách trong tay cùng với một tâm trạng gần như thế. Chỉ có điều khác biệt, tôi đã ra hẳn cuộc chiến tranh tàn hại nhất trong lịch sử dân tộc tôi tính đến nay đã 38 năm. Nơi tôi ở không phải là 5 dặm phía sau tiền tuyến mà hàng cả chục ngàn dặm bên kia Thái Bình Dương quê hương tôi. Tôi cũng là một người lính chiến giống như nhân vật trong truyện đang thuật lại là Paul Bäumer. Tôi cũng có những bạn cùng lớp như Paul, nhưng thay vì Paul là người cuối cùng ra đi trong số 7 người bạn cùng lớp thì chúng tôi gồm 189 người cùng lớp, tính cho đến ngày 30 tháng tư năm 1975, đã mất đi vừa tròn 80, sau 12 năm lăn lộn trên khắp chiến trường của 4 vùng chiến thuật kể từ ngày tốt nghiệp Võ Bị.

Cuộc chiến ấy đã thật sự lấy đi của thế hệ chúng tôi ở cả hai phía chiến tuyến biết bao nhiêu tinh hoa, làm cạn kiệt không biết bao nhiêu tài nguyên thiên nhiên, và đau thương hơn tất cả đó là những người còn lại sau cuộc chiến này đều bị hủy hoại hoặc toàn bộ, hoặc hơn một nửa phẩm chất của một con người bình thường. Đúng như câu viết đầu tiên của cuốn sách.

Người ta thường nói đến hệ quả chiến tranh Việt Nam trong lòng dân tộc Hoa Kỳ mà người ta đã cố tình bỏ quên đi hệ quả chiến tranh Việt Nam ngay chính trong lòng dân tộc Việt.

Tôi đã từng đọc cuốn truyện này trong tựa đề “Mặt trận miền tây vẫn yên tĩnh” qua một bản Việt dịch mà tôi đã thực sự quên hết cả câu chuyện lẫn tên dịch giả. Tôi chỉ còn nhớ rất mù mờ về thời gian hình như những năm thuộc cuối thập niên 60, một số tác phẩm của Remarque được dịch qua tiếng Việt chẳng hạn như các cuốn “Mặt trận miền tây vẫn yên tĩnh”, “Một thời để yêu một thời để chết”, “Chiến hữu”…Đó là những năm tháng tôi theo chân đơn vị hành quân miệt mài. Những cuốn sách tôi mang theo trong balô đã mang đến những ưu tư không hằn thành nét, mung lung trong tôi.

“Bốn người bạn cùng lớp gồm: Albert Kropp, Müller, Leer, và người kể chuyện Paul Bäumer, kế đến là các bạn kết thân sau này khi đến đơn vị: Tjaden, Haie Westhus, Detering và Katczingsky.”

“No one had the vaguest idea what we were in for. The wisest was just the poor and simple people. They knew the war to be a misfortune, whereas those who were better off, and should have been able to see more clearly what the consequences would be, were beside themselves with joy.” (p.11)

Chẳng ai có một ý tưởng rõ nét nào về việc đi lính của chúng tôi. Những người thông thái nhất cũng giống như một người bình thường nghèo khổ, chẳng ai có một ý tưởng nào rõ ràng vế việc lính tráng của chúng tôi. Họ chỉ biết chiến tranh là bất hạnh, trong khi những tay giầu có và có thể thấy được hậu quả của chiến tranh thì lại vui sướng ra mặt.

“The idea of authority, which they represented, was associated in our minds with a greater insight and a more humane wisdom. But the first death we saw shattered this belief. We had to recognize that our generation was more to be trusted than theirs. They surpassed us only in phrases and in cleverness. The first bombardment showed us our mistakes, and under it the world as they had taught it to us broke in pieces.” (p.11)

“While they continued to write and talk, we saw the wounded and dying. While they taught that the duty to one’s country is the greatest thing, we already knew that death-throes are stronger.” (p..13)

Họ đại diện cho một ý tưởng quyền lực được gắn liền với ý nghiã cho rằng họ sáng suốt hơn và khôn ngoan hơn. Nhưng khi chúng tôi nhìn thấy cái chết đầu tiên xẩy đến thì niềm tin tưởng này tan vỡ. Chúng tôi nhận ra ngay rằng thế hệ chúng tôi đáng tin hơn thế hệ của họ. Họ chỉ hơn chúng tôi trong những câu nói và trong khôn khéo đối nhân xử thế. Cuộc oanh tạc đầu tiên chỉ cho chúng tôi những sai lầm của mình, và cái thế giới mà họ đã nói cho chúng tôi biết vỡ tan từng mảnh.

Trong khi họ vẫn tiếp tục viết và nói, chúng tôi cũng tiếp tục nhìn thấy những người bị thương và bị chết. Trong khi họ dậy chúng tôi rằng bổn phận đối với tổ quốc là điều cao cả thì chúng tôi lại thấy rằng nỗi đau buồn chết chóc lại to lớn hơn.

Khóa chúng tôi ra trường ngày 30 tháng 3 năm 1963. Mười một thiếu úy hiện dịch được phân bổ về trình diện Sư Đoàn 7 BB có bản doanh đóng tại tỉnh Mỹ Tho lúc ấy. Cả 11 đứa được chia đều cho 3 trung đoàn tác chiến. Tôi cùng 3 bạn cùng lớp được bổ sung quân số cho Trung đoàn 11. Nghê Hữu Cung và Trần Thừa Tự về Tiểu đoàn 1. Tôi và Nguyễn Tiến Mão về Tiểu đoàn 3. Trung đoàn 11 gồm 3 tiểu đoàn 1, 2, 3. Tiểu đoàn 3 lúc đó là tiểu đoàn hành quân lưu động. Lãnh thổ hành quân bao gồm các tỉnh Hậu Nghĩa, Long An, Định Tường, Kiến Tường, Gò Công, Kiến Phong, Vĩnh Long, Phong Dinh, Vĩnh Bình! Với vùng hành quân rộng như vậy, cho nên đôi khi trong cùng một ngày, chúng tôi có thể có mặt trên lãnh thổ của 2, hoặc 3 tỉnh. Sáng ở Mỹ Tho chiểu lang thang Long An, tối trở về Hậu Nghiã.

Đọc tiếp…

Share and Enjoy:
  • Digg
  • Sphinn
  • del.icio.us
  • Facebook
  • Mixx
  • Google
  • StumbleUpon
  • blogmarks
  • Technorati
  • De.lirio.us
  • Gwar
  • Reddit
  • YahooMyWeb

Những hồi ức từ buổi họp mặt của một khóa Võ Bị lừng danh

Phạm Tín An Ninh

Tối Chủ Nhật 24/11, trước Thanksgiving, tôi được ông anh bà chị cho tháp tùng tham dự buổi họp mặt Cựu SVSQ Khóa 16 VBQGVN của anh, kỷ niệm 54 năm ngày khai giảng Khóa Võ Bị đặc biệt vang danh này.

Có lẽ hầu hết những ai đã trưởng thành tại miền Nam Việt Nam trong cuộc chiến chống Cộng đều biết hay nghe nói về Khóa 16 VB(Đà Lạt). Khóa đầu tiên cũng là khóa điển hình của quân trường mang danh “Võ Bị Quốc Gia Việt Nam”, hậu thân của trường Võ Bị Liên Quân Đà Lạt (École Militaire InterArmes de Dalat (EMIAD).  Một quân trường danh tiếng nhất Vùng Đông Nam Á, đào tạo những sĩ quan hiện dịch mẫu mực nhất. Với Đại tá Trần Ngọc Huyến, vị chỉ huy trưởng nhiều tài năng và huyền thoại,  một chương trình huấn luyện bốn năm mới mẽ, đặc biệt chú trọng đến kiến thức văn hóa, với châm ngôn được dùng như kim chỉ nam: “Tự Thắng Để Chỉ Huy”, những bài giảng về nghệ thuật lãnh đạo có sức lôi cuốn, cùng với bài truy điệu và những hình thức tưởng niệm đầy tính bi hùng của chính vị chỉ huy trưởng đặt ra, đã thổi vào tim óc học trò của ông, những SVSQ Khóa 16 VB, lòng say mê binh nghiệp, niềm kiêu hãnh của một người lính sẵn sàng hy sinh cho tổ quốc, để sau này trở thành những vị chỉ huy tài ba, thao lược, văn võ song toàn, làm rạng danh cho Quân Lực VNCH.

Hôm nay, những cánh “đại bàng” còn sống sót từ một thời lẫy lừng trên khắp chiến trường ngày ấy, dù trên thân xác và trong tâm hồn còn mang nhiều thương tích, và tuổi đời đã đến lúc không còn nhiều cơ hội để hẹn một lần sau, nhưng đã cố qui tụ về đây để cùng gặp gỡ những đồng môn năm xưa, khi tất cả còn là những SVSQ trai trẻ, đứng trên đỉnh Lâm Viên với hào khí ngút trời, cùng một lời nguyền :” Chúng tôi không cầu an lạc dễ dàng, mà chỉ khát khao gió mưa cùng nguy hiểm”. Nhìn những mái đầu bạc, những bước chân khập khiểng, những đôi mắt mơ hồ như đang hồi tưởng về quá khứ lẫm liệt một thời, có ai không khỏi chạnh lòng?

Đọc tiếp…

Share and Enjoy:
  • Digg
  • Sphinn
  • del.icio.us
  • Facebook
  • Mixx
  • Google
  • StumbleUpon
  • blogmarks
  • Technorati
  • De.lirio.us
  • Gwar
  • Reddit
  • YahooMyWeb

nhà thơ đi lính

(Để tưởng nhớ Y-Broc Niê và Lại Trọng Hà)

Phạm Tín An Ninh

Tôi không biết làm thơ. Chính xác hơn là tôi dốt đặc về thơ. Nhưng có điều tôi rất mê thơ. Thời mới vào trung học, tôi đã từng nắn nót chép những bài thơ của mấy ông Xuân Diệu, Chế Lan Viên, Lưu Trọng Lư, Đinh Hùng, Thâm Tâm… vào những tập giấy pelure đủ màu xanh đỏ, đóng bìa cứng với cái tựa mạ vàng. Tôi còn thuộc lòng hết mấy bài thơ tình của TTKH. Biết ai làm thơ hay, có đôi bài đăng trên Tiểu Thuyết Thứ Năm, Phổ Thông, Phụ Nữ Diễn Đàn hay Văn Nghệ Tiền Phong là tôi xem như thần tượng, gởi thư cho tòa soạn xin địa chỉ viết vài dòng làm quen, dù rất hiếm khi nhận được hồi âm. Lớn lên, vào lính, ngoài hành trang ba lô súng đạn, tôi luôn mang theo hồn thơ lai láng. Khi ấy tôi cũng vừa khám phá ra điều thú vị: người lính, đời lính và tình yêu của lính chính là đề tài lớn nhất cho các nhà thơ, nhạc sĩ sáng tác. Những chiều dừng quân, nghe tiếng gió rừng hòa tiếng suối reo, hay những lúc băng qua cánh rừng đầy hoa sim tím, tôi lại buột miệng thì thầm vài câu thơ quen thuộc. Nàng thơ lúc nào cũng ngự trị trong tôi, theo tôi đến mọi chân trời góc biển.

Đơn vị tôi là một tiểu đoàn tác chiến lưu động, có mặt trên hầu hết các địa danh Vùng 2 Chiến Thuật. Rày đây mai đó. Có khi buổi tối còn đóng quân trong núi rừng Quảng Đức, Lâm Đồng, chiều hôm sau lại có mặt ở bờ biển Tuy Hòa, Phan Thiết. Tôi nhận trung đội với chỉ 25 người lính, Thượng nhiều hơn Kinh. Trong đó có một anh trung sĩ, tên Y- Broc Niê, có học hành, tư cách và kỷ luật. Đặc biệt anh có đôi mắt đẹp, mơ màng. Không biết gia đình giàu có thế nào, nhưng nghe nói anh được học trường Tây, nói tiếng Pháp còn giỏi hơn tiếng Việt. Trong ba lô của anh lúc nào cũng có cuốn Le Petit Larousse rất cũ kỹ và vài cuốn truyện tiếng Pháp. Anh được tất cả lính Thượng trong đơn vị kính nể, bảo điều gì cũng nghe răm rắp. Ngược lại anh cũng luôn quan tâm lo lắng đến đời sống và tranh đấu cho quyền lợi của họ. Xin cho được đi phép và cam kết họ sẽ trở lại đơn vị (vì thời ấy đa số lính Thượng khi về buôn bản, họ không muốn ra đi, bỏ lại nương rẫy vợ con nữa). Rất may là anh ta rất quí mến tôi. Hai thằng trở thành bạn thân khi tôi biết anh cũng rất thích thơ và biết làm thơ. Những ngày đóng quân trong rừng, anh thường ngồi đọc cho tôi nghe mấy bài thơ tình lãng mạn của các ông Jacques Brévert, Lamartine. Anh còn cho tôi nghe những bài thơ được anh dịch ra tiếng Thượng, và dạy cho tôi nói một vài tiếng Ê-đê. Anh hãnh diện khoe với tôi, anh là cháu ruột của nhân sĩ trí thức Y-Yut, người đã tìm hiểu mẫu tự La tinh và vần Ê-đê để đặt ra bộ chữ viết Ê-đê ngày nay. Đôi lúc tôi thắc mắc và thầm tiếc là tại sao một người sắc tôc có trình độ như anh mà chỉ làm trung sĩ tiểu đội trưởng tác chiến, tại sao chính phủ không xử dụng anh ở những vai trò khác hữu ích hơn, Nhưng rồi lại thấy nhờ may mắn có anh mà đời lính của tôi vui và thi vị hơn.

Đọc tiếp…

Share and Enjoy:
  • Digg
  • Sphinn
  • del.icio.us
  • Facebook
  • Mixx
  • Google
  • StumbleUpon
  • blogmarks
  • Technorati
  • De.lirio.us
  • Gwar
  • Reddit
  • YahooMyWeb

Tiễn biệt ký giã Cao Sơn Nguyễn Văn Tấn

(người sinh viên khí khái trong “Hàng Ngũ Sinh Viên Quốc Gia Chống Cộng”
giữa thập niên 1960 tại Sài gòn.)

Liên tục trong hai ngày cuối năm, 29 và 30.12.2013, đại diện hầu hết các hội đoàn tại Bắc Cali và đông đảo đồng nghiệp, thân hữu , bạn bè từ khắp nơi đã đến Oak Hill Funeral Home&Memorial tại thành phố San Jose để nhìn mặt lần cuối, nói lời từ biệt và tiễn đưa Cao Sơn Nguyễn Văn Tấn trở về với cát bụi, hư vô.

Rất nhiều người lên nói lời chia tay. Ngoài những bạn bè một thời thân thiết, từng cùng sống chết, thăng trầm, cùng chén thù chén tạc bên nhau, còn có cả những vị đã từng đụng chạm, ngộ nhận, tiếng bấc tiếng chì, bởi bản tính bộc trực, sôi nổi của Cao Sơn. Tất cả đã dành cho Cao Sơn lời ngợi ca, niềm cảm thông, thương tiếc.

Tình cảm ấy chắc chắn đã làm ấm lòng người ra đi, dù xác thân anh và cả đất trời San Jose đang trong những ngày giá lạnh.

Người nói lời tiễn biệt ngắn nhất, nhưng cảm động nhất hôm ấy, có lẽ là người bạn chí thân của Cao Sơn, từ thuở còn là sinh viên cho đến bây giờ, gần như lúc nào cũng có bên nhau: Nhà văn Thư Sinh. Anh không nói bằng lời mà bằng sự xúc động đến nghẹn ngào, sụt sùi với những dòng nước mắt. Thư Sinh Phạm Tài Tấn là người đã cùng hoạt động với Cao Sơn trong hàng ngũ sinh viên chống Cộng, từng chứng kiến nhiều hành động can đảm, khí khái của Cao Sơn. Thuở ấy họ đều là những sinh viên trẻ yêu nước bằng trọn trái tim đầy nhiệt huyết

Đọc tiếp…

Share and Enjoy:
  • Digg
  • Sphinn
  • del.icio.us
  • Facebook
  • Mixx
  • Google
  • StumbleUpon
  • blogmarks
  • Technorati
  • De.lirio.us
  • Gwar
  • Reddit
  • YahooMyWeb

trang bạn hữu - thơ Phan Thị Ngôn Ngữ

Nhặt nắng sân trường


Cổng trường xưa đã đóng tự bao giờ

sao sáng nay hồn tôi hồi chuông đổ

có nhịp guốc khua đi về đâu đó

đôi tà áo bay trắng nẻo đường chiều


Em về đâu - chiếc bóng nhỏ liêu xiêu

chân thấp cao qua thời tay bồng bế

chắc hẳn đang ngồi đếm đời dâu bể

quên giờ ra chơi nhặt nắng sân trường

quên ly cà phế đắng đậm mùi hương

những đêm mùa thi tập tành uống vội

chắc quên chiếc lá thuộc bài vô tội

nằm chết khô giữa trang sách vô tình


Em về đâu - đang cập bến hay lênh đênh

chắc cũng chẳng còn bao điều để nhớ

thuở học trò - giờ trả bài nín thở

hàm số - thập phân …con toán rối bời

phấn trắng bảng đen…mưa ướt sân chơi

ướt trang sử đã bao đời chìm nổi

đường Chiêm quốc bụi mù xa vời vợi

bước Huyền Trân rong ruổi mấy dặm ngàn

con chim nào nhớ bạn đứng hót khan

kẻng chưa đánh hồn lang thang biển gọi

quyển lưu bút chuyền tay nhau viết vội

sợ tiếng ve kêu rụng nhánh phượng hồng

sợ mốt mai dăm bảy đứa lấy chồng

bỏ trường lớp - bỏ một thời thơ dại

bỏ phố phường - những con đường trầm ngãi

tan học về chân lận đận theo chân

nắn nót bài thơ lỗi luật sai vần

nửa muốn trao nửa ngại ngần cất giữ

nửa hẹn lòng nửa đắn đo do dự

vành nón nghiêng con mắt giả lơ nhìn


Em về đâu - đầu sóng hay cuối ghềnh

cổng trường cũ hẳn vẫn muôn lần đợi

hãy nói với nhau bao điều chưa nói

giữ kín làm gì chỉ tội lòng đau

giữ kín làm gì thêm tội đời sau

mai với mốt - tháng năm rồi sẽ hết

mai với mốt - tháng năm đời mỏi mệt

tuổi học trò như gió thoảng mây bay

Phan Thị Ngôn Ngữ


Share and Enjoy:
  • Digg
  • Sphinn
  • del.icio.us
  • Facebook
  • Mixx
  • Google
  • StumbleUpon
  • blogmarks
  • Technorati
  • De.lirio.us
  • Gwar
  • Reddit
  • YahooMyWeb

chim bay về biển

Một mai chim bỏ bay về biển

Ta đứng một mình ngó nhánh sông

Ta khóc nhìn theo giòng nước chảy

Nghe trăm ngọn sóng vỗ trong lòng

(Sương Mai)

Một cánh chim vừa bay ra biển, nhỏ dần rồi mất hút giữa mênh mông. Tôi mơ hồ như hình ảnh của chính mình đang tìm về quê cũ. Hình dung đến thành phố Nha trang xưa, nơi mà nếu không có biển sẽ không còn lãng mạn để người ta nhắc nhớ, đắm say, cũng có thể làm nhẹ đi ít nhiều tiếc nuối của nhưng người Nha trang xa xứ.  Bờ biển cát từng chôn giấu những hang động tuổi thơ và ôm ấp dấu tích của bao cuộc tình thơ mộng, nước biển đã cuốn trôi đi, nhưng không thể xóa mất trong ký ức của nhiều cặp tình nhân mà bây giờ tóc ai cũng bạc. Âm thanh những ngọn sóng rì rào đã dệt nên những bài thơ, những bản tình ca từng làm khuấy động bao trái tim người, mà dư âm dường như vẫn còn vang vọng mãi.

Nha trang đẹp đẽ, hiền hòa và thơ mộng đó bây giờ đã không còn nữa. Đã trở thành một Nha trang xa lạ, như thuộc về ai đó chứ không phải của mình. Đó là cảm nhận xót xa của đám bạn bè tôi, không chỉ người đã rời xa mà cả những người vẫn còn ở lại với Nhatrang, sống với Nhatrang gần trọn một đời.

Đọc tiếp…

Share and Enjoy:
  • Digg
  • Sphinn
  • del.icio.us
  • Facebook
  • Mixx
  • Google
  • StumbleUpon
  • blogmarks
  • Technorati
  • De.lirio.us
  • Gwar
  • Reddit
  • YahooMyWeb

chim bay về núi

(thay vòng hoa tiễn biệt Hải-Âu Phan Công Minh)

Buổi chiều, mùa hè Bắc Âu thường có những ngày mưa, ảm đạm. Tôi nhận được tin từ Nationwide Viet Radio (NVR) Hoa Thịnh Đốn, báo tin  Phan Công Minh vừa mới ra đi, trước đó chừng một tiếng đồng hồ. Lòng tôi chùng xuống, điều mất mát lớn lao ấy đã cho tôi cái cảm giác trống rỗng, mọi thứ chung quanh bỗng dưng đều trở thành vô nghĩa. Ngoài trời dường như gió đã ngưng thổi, một cơn mưa hạ vừa đổ xuống những hàng thông đứng lặng yên như chịu tang. Cơn mưa rào, đến ào ào nhưng dứt sớm. Đứng trên bao lơn nhìn ra phía trước. Cả một vùng không gian tĩnh lặng. Trước mắt tôi chỉ còn một điểm cử động duy nhất: cánh chim. Cánh hải âu lẻ loi, thư thả, nhịp đôi cánh bay về hướng núi rừng mờ xa phía trước, rồi từ từ mất hút giữa không trung. Bất chợt, tôi hình dùng đến Phan Công Minh, một cánh chim Hải Âu (*) vừa bay ngược v ề núi rừng thay vì ra biển.

Đọc tiếp…

Share and Enjoy:
  • Digg
  • Sphinn
  • del.icio.us
  • Facebook
  • Mixx
  • Google
  • StumbleUpon
  • blogmarks
  • Technorati
  • De.lirio.us
  • Gwar
  • Reddit
  • YahooMyWeb

Đôi điều về một vị thầy khả kính

Giáo sư Lưu Trung Khảo

Thời còn đi học, tôi không được may mắn học với giáo sư Lưu Trung Khảo. Thầy dạy ở Sài gòn và một vài trường ở các tỉnh miền Nam, tôi chỉ học ở Nha trang. Lúc vào lính tôi cũng chưa hề được gặp thầy, khi thầy có một thời gian trong quân ngũ. Thầy phục vụ ở Tổng Cục CTCT và Tòa Đô Chánh, còn tôi thì ở một đơn vị chiến đấu tại Vùng 2.

Sau 1975, Thầy định cư ở Mỹ, còn tôi ở mãi tận Bắc Âu, nên không biết những hoạt động của thầy. Sau này thỉnh thoảng đọc được một số bài viết của thầy, về chính trị, văn hóa và một số lãnh vực khác, tôi ngưỡng mộ một người hiểu biết rộng, rất nặng tấm lòng với quê hương dân tộc, và đặc biệt với các thế hệ hậu sinh. Thấy trước cái tên thật đẹp của thầy thường có kèm theo hai chữ giáo sư, tôi đi hỏi mấy anh bạn tốt nghiệp sư phạm, hy vọng đã từng là đồng nghiệp của thầy, cũng chỉ được biết có thời thầy dạy ở Nguyễn Trãi sau này là Chu Văn An, và cuối cùng về Bộ Quốc Gia Giáo Dục. Ngoài ra tôi cũng được biết thêm về các hoạt động rất đa diện và tích cực của thầy từ khi thầy đến  định cư ở Hoa Kỳ.

Năm 2007, nhân dịp sang Cali thăm con và mấy người bạn cùng đơn vị cũ, tôi bất ngờ được nghe vài chương trình Phật Giáo Hải Triều Âm trên Little Saigon Radio, có giới thiệu một số truyện ngắn của tôi: Người Bán Sách Trên Bãi Biển Nha Trang, Thằng Bé Đánh Giày Người Nghĩa Lộ, Tiểu Thơ, Đà Lạt Trời Mưa, Những Điều Mơ Ước… Người giới thiệu chính là giáo sư Lưu Trung Khảo. Tôi vui và hạnh phúc lắm, vì nghĩ mình chỉ mới tập tành viết lách, vậy mà được một vị giáo sư tiếng tăm giới thiệu và dành nhiều mỹ cảm cho các bài viết. Dù vậy, tôi cũng chỉ mới được nghe qua giọng nói từ tốn, mạch lạc và có sức lôi cuốn của thầy, nhưng chưa biết mặt thầy.

Đầu năm 2008, Tiến sĩ Trần Huy Bích, môt người tôi cũng chưa được hân hạnh quen biết, đọc ở đâu đó một số bài viết của tôi, đồng cảm và dành cho tác giả một cảm tình đặc biệt. Giáo sư Bích đã liên lạc với tôi qua email, hướng dẫn và khuyến khích tôi nên tập trung các bài viết để in thành sách, và ông sẽ giúp tổ chức một buổi ra mắt sách tại miền Nam Cali. Tôi khá bất ngờ, vì đó là điều tôi chưa hề dám nghĩ tới. Hơn nữa lúc ấy tôi còn khá lạ lẫm với Little Saigon, và ngại ngùng trước bao chuyện bon chen. Nhưng qua chữ nghĩa và lời nói, tôi biết đây là một vị thầy mực thước, khiêm cung, có tấm lòng nhân hậu đáng kính. Tôi vâng lời thầy dù trong lòng chưa hết băn khoăn. Lâu nay, tôi nghĩ viết lách chỉ là một hình thức giải tỏa phần nào những ẩn ức còn đè nặng trong lòng, và cũng chỉ để chia sẻ với một số đồng đội cũ, những bạn bè có tên trong các câu chuyện kể hay cùng hoàn cảnh thăng trầm, thế thôi. Tôi chưa hề có ý nghĩ phổ biến rộng rãi những bài viết, huống hồ chuyện in thành sách và ra mắt tác phẩm.

Giáo sư Trần Huy Bích liên tục khuyến khích, giới thiệu tôi đến một số bạn bè khác của thầy, những nhà văn, nhà giáo lão thành có tiếng tăm, trong số đó có giáo sư Nguyễn Thanh Liêm và giáo sư Lưu Trung Khảo. Lần đầu tiên nhận đựợc thư của thầy Lưu Trung Khảo, tôi vui và hãnh diện lắm. Không ngờ có một ngày được thầy gọi đến tên mình. Chưa gặp thầy, nhưng tôi cứ tưởng tượng và ái ngại, nghĩ mình từng là một đứa học trò dở, học hành nhếch nhác, liệu có xứng đáng được một vị thầy có tiếng tăm thương yêu, giúp đỡ.

Nhờ sự khuyến khích của giáo sư Bích rồi đến thầy Khảo, tôi mạnh dạn in tập truyện đầu tay “Ở Cuối Hai Con Đường” và xin chỉ xuất bản với mục đích góp vào quỹ Cứu trợ Thương Phế Binh VNCH. Điều mà tôi hằng ước ao, như để được trả phần nào món nợ máu xương quá lớn mà mình sẽ không bao giờ trả hết được.

Tháng 6/ 2008 tôi đến Mỹ. Giáo sư Trần Huy Bích tận tình giúp đỡ, đưa tôi đến gặp một số các cơ quan truyền thông: Little Saigon Radio, Radio Bolsa, Nhật báo Người Việt, Việt Báo, Viễn Đông, và đặc biệt gặp giáo sư Nguyễn Thanh Liêm và Lưu Trung Khảo. Hai thầy đã đồng ý giới thiệu tác giả và tác phẩm, không những trên một số đài phát thanh mà còn trong buổi ra mắt sách tại hội trường Nhật báo Viễn Đông.

Lần đầu tiên tôi được gặp thầy Lưu Trung Khảo tại văn phòng Hội Quán Tả Quân Lê Văn Duyệt của thầy Nguyễn Thanh Liêm. Hai thầy đã hỏi tôi nhiều điều về gia đình, cuộc sống, đặc biệt chia sẻ những đau đớn mất mát mà tôi đã phải trải qua trong và sau cuộc chiến. Thầy Khảo cho biết đã đọc qua tập truyện “Ở Cuối Hai Con Đường” và dành cho tôi nhiều khích lệ. Hôm ấy, tôi cùng đi với một người bạn. Anh là một sĩ quan cùng đơn vị, rất hiền lành. Sau 75, khi anh vào tù chưa tròn một năm thì cô vợ đã bỏ anh để lấy một cán bộ Cộng sản. Điều đau lòng hơn là ngay sau khi vừa mới ra tù, anh bị cô vợ bất nhân bất nghĩa này nghe lời xúi giục của gã chồng mới, đưa anh ra tòa với lý do là thời gian ở tù 7 năm chưa đủ “đền tội ác” để xin tòa bắt anh vào tù trở lại. Đã vậy còn đầu độc và xúi hai đứa con đến chửi bới hổn láo và định đánh cả cha ruột của mình. Kể xong câu chuyện, tôi nhìn thầy Khảo. Đôi mắt của Thầy đỏ hoe và vài giọi lệ còn đọng trên khóe mắt. Ngoài các đức tính khác, bây giờ tôi còn biết Giáo sư Lưu Trung Khảo là một người dễ động lòng trước nghịch cảnh, trái tim thầy luôn đầy ắp yêu thương, cảm xúc.

Buổi ra mắt tập truyện hôm ấy rất thành công. Phần lớn là nhờ sự giúp đỡ tận tình của Giáo sư Trần Huy Bích, và đặc biệt là sự thương yêu, cổ võ và những lời giới thiệu rất chí tình, cảm động của thầy Lưu Trung Khảo.

Tôi tự biết và cũng không bao giờ dám nhận mình là một nhà văn.  Về khả năng viết lách, tôi thấy mình vẫn mãi chỉ là một đứa học trò. Nhưng điều làm tôi vinh dự và hạnh phúc là được làm học trò của thầy Bích, thầy Liêm và thầy Lưu Trung Khảo.

Một người từng trải, khiêm cung như thầy, chắc chắn không thích người khác ca ngợi, nói tốt về mình. Kính mong thầy thứ lỗi. Viết những dòng này chỉ muốn nhắc lại vài kỷ niệm ít oi mà tôi may mắn đã có với thầy. Có thể, đối với thầy chỉ là nhỏ nhoi, nhưng với tôi là  rất đáng trân quý. Và cũng để mừng thầy trong ngày thượng thọ 80, khi tôi không có mặt chúc thọ thầy, để được nói với thầy một lời cám ơn, dù rất muộn màng.

Bắc Âu, tháng 6-2013

Phạm Tín An Ninh

Share and Enjoy:
  • Digg
  • Sphinn
  • del.icio.us
  • Facebook
  • Mixx
  • Google
  • StumbleUpon
  • blogmarks
  • Technorati
  • De.lirio.us
  • Gwar
  • Reddit
  • YahooMyWeb

trang bạn hữu - thơ Cung Vĩnh Viễn

TIỄN NGƯỜI ĐI

Buổi chiều hôm ấy mưa tầm tã

cũng chẳng cầm em nán lại lâu

«vũ vô kiềm tỏa năng lưu khách»

câu nói người xưa chẳng đúng đâu.

Em đi mưa gió không ngăn nổi

để lại đằng sau dĩ vãng sầu

bạn bè gặp gỡ đều như thể

né tránh dùm ta một nỗi đau.

Giữ thì giữ được tâm người ở

làm sao giữ nổi kẻ ra đi

ngóng hoài ở cuối chân mây vắng

thấp thỏm lòng ta được nỗi gì.

Em đi biển đã vang lời gọi

bến lạ bờ xa những dấu chân

lớp sóng thủy triều bôi xóa hết

em có tìm ra chính tự thân?

Sống trọn đời mình không phải dễ

để mà không phải thấy ăn năn

trong cuộc kiếm tìm vô vọng ấy

cái bóng nhiều khi lẫn cái hình.

Đã đổi thay rồi mỗi sát na

trời thì thăm thẳm đất bao la

chợt có hôm nào dừng chân lại

có xót cùng ta một nỗi nhà?

Đường vẫn xa hay đã thấy gần

hiểu thêm một chút nghĩa phù vân

quên đi câu vẫn thường ngâm ngợi

«sắc bất ba đào dị nịch nhân».

Cung vĩnh Viễn

Share and Enjoy:
  • Digg
  • Sphinn
  • del.icio.us
  • Facebook
  • Mixx
  • Google
  • StumbleUpon
  • blogmarks
  • Technorati
  • De.lirio.us
  • Gwar
  • Reddit
  • YahooMyWeb

Một thoáng Pleiku

Phạm Tín An Ninh

Thật lòng, tôi không có nhiều gắn bó với Pleiku. Và dường như cái phố núi buồn hiu ấy đã cho tôi nhiều nỗi buồn hơn là niềm vui. Vậy mà khi đã xa -thực sự vĩnh viễn xa- Pleiku rồi, tôi lại thấy da diết nhớ,  trăn trở với cái cảm giác mình có tội với Pleiku, và mãi mãi sẽ còn nợ phố núi này một lời xin lỗi.

Tôi chưa (và có thể không) có dịp về thăm lại Pleiku, nên cái xa cách ấy lại càng thấy mịt mùng. Cái phố núi vốn đã bé nhỏ, như một ông nhà thơ đã ví von “đi dăm phút trở về chốn cũ” ấy,  giờ với tôi dường như chỉ còn là chút sương khói trong lòng. Điều kỳ lạ là chút khói sương mờ ảo ấy cứ luôn lãng đãng trong ký ức và trái tim già cỗi của tôi, như những mảng mù sương từng bao phủ, giăng mắc trên phố núi Pleiku ngày trước.

Nếu không có cuộc chiến Kontum, có lẽ sẽ không có dấu chân nào của tôi trên bùn lầy đất đỏ Pleiku. Dẫu là dấu chân của người lính chiến. Chợt đến chợt đi, hay có khi nằm lại vĩnh viễn trên núi rừng heo hút vô danh. Thống thuộc một đại đơn vị có bản doanh tại Ban Mê Thuột, nhưng đơn vị tôi có hậu cứ tại Sông Mao (Phan Thiêt) và  đảm trách một vùng hành quân khá rộng lớn dọc theo miền duyên hải. Đúng ngày cuối năm âm lịch 1972, khi cả đơn vị đang chuẩn bị cho quân sĩ ăn Tết tại doanh trại Lý Thường Kiệt - Sông Mao, chúng tôi nhận lệnh di chuyển khẩn cấp lên An Khê, thay thế cho một đơn vị của Sư Đoàn 101 Không Kỵ Hoa Kỳ rút quân về nước, và tăng cường cho mặt trận Bình Định, khi một số đơn vị của Sư Đoàn 22BB hoạt động ở đây, vừa di chuyển lên mặt trận Dakto, Tân Cảnh.

Loanh quanh ở An Khê chưa được hai tháng, cùng với Thiết Đoàn 3 Kỵ Binh tăng phái, đánh vài trận, giải tỏa một số căn cứ của Sư Đoàn Mãnh Hổ Đại Hàn nằm dọc trên đèo An Khê bị Cộng quân tạo nhiều vòng đai vây hãm, đơn vị chúng tôi được lệnh di chuyển khẩn cấp lên phi trường Pleiku để được không vận lên Kontum.  Bộ Tư Lênh HQ Sư Đoàn 22BB vừa bị tràn ngập tại căn cứ Tân Cảnh và vị Tư Lệnh đã ở lại để vùi thây nơi chiến địa cùng với quân sĩ dưới quyền. Địch quân đang trên đà tràn xuống trong ý đồ chiếm lấy Kontum.

Tôi đến Pleiku như vậy đó. Thời gian chưa đủ nhìn một dãy phố và núi đồi chạy dọc theo con đường dẫn ra phi trường Cù Hanh. Tôi có cảm giác chưa đến thì đã rời khỏi Pleiku. Hơn tám tháng sống chết với chiến trường và giữ vững Kontum, chúng tôi được kéo về Pleiku dưỡng quân và bổ sung quân số. Đây là phần thưởng đặc biệt cho một đơn vị tạo nên kỳ tích trong trận chiến đẩm máu để có một “Kontum Kiêu Hùng”.  Một tháng đóng quân trên Đồi Đức Mẹ. Lại là một tháng “gió lạnh mưa mùa”. Cả núi đồi và thành phố Pleiku mờ mịt và lầy lội trong mưa. Hình ảnh của bao nhiêu bạn bè đồng đội vừa mới hy sinh trên chiến trường Kontum lúc nào cũng hiện ra trước mặt, đau đớn tựa hồ như những nhát chém còn rỉ máu trong lòng. Muốn tạm quên chốc lác đã là một điều không dễ. Bọn tôi cần được say. Mỗi ngày chỉ ra phố để uống rượu. Thỉnh thoảng đi nhận đám lính bị Quân Cảnh của ông đại úy Hiển bắt. Khi đó tôi đâu có biết ông đồn trưởng Quân Cảnh này là nhà thơ Hoàng Khởi Phong, cũng chịu chơi, nhậu nhẹt, lãng mạn (và vi phạm quân phong quân kỷ?)  như ai.

Pleiku có nhiều quán cà phê và nhiều khuôn mặt mỹ nhân, nhưng chúng tôi chỉ chọn các quán rượu. Dường như cà phê không đủ ấm, không đủ để quên, và cái say của rượu cũng chóng phôi pha hơn cái say đàn bà, con gái. Hơn nữa chỉ được có một tháng, mà trước mặt là những trận chiến đẫm máu đang chờ. Chẳng ai muốn vương vấn nợ tình.

Riêng tôi còn có một anh bạn, Liên Đoàn Trưởng BĐQ trú đóng ở Biển Hồ. Vợ và hai đứa con chết thảm tại Quảng Đức vì xe bị VC giật mìn, nên bây giờ anh chỉ làm người tình với rượu. Tôi bị anh kéo theo cái vòng “tục lụy” này.

Lúc trước anh là một cấp chỉ huy nổi tiếng trong BĐQ, thời gian binh chủng này mới thành lập. Nhưng sau đó do ảnh hưởng từ các phe nhóm chính trị, anh đã bị bắt đi tù một thời gian, ngưng thăng cấp và sau đó chuyển đến đơn vị tôi, với cái lệnh “không được giữ chức vụ chỉ huy nào.” Biết anh là một niên trưởng và từng dạn dày lửa đạn, tôi tận tình giúp đỡ an ủi anh. Thời gian sau anh bỗng dưng được “vô tội”, trở lại binh chủng, thăng cấp và chỉ huy một Liên Đoàn BĐQ tại QK2.

Do cái ân tình đó, nên những ngày không hành quân, anh đến kéo tôi ra quán rượu. Tôi chỉ nhìn Pleiku qua những cơn say. Vì vậy Pleiku với tôi càng nhỏ hẹp hơn, chỉ là không gian của một quán rượu trong khu Chợ Mới.  Một tháng, tôi chưa hề biết tên một con đường, thì làm sao biết được tên của một mỹ nhân , để “may mà có em đời con dễ thương !”

Tôi rời khỏi Pleiku một ngày sau khi thành phố Ban Mê Thuột vừa lọt vào tay giặc. Sáng ngày 13.3.75, theo những toán quân đầu tiên của đơn vị được trực thăng vận từ Hàm Rồng đổ xuống Phước An, quận lỵ duy nhất còn lại của tỉnh Darlac, nằm cách BMT khoảng 30 cây số trên QL 21 về hướng Nha Trang. Khi một nửa đơn vị vừa xuống Phước An, thì Pleiku có lệnh di tản. Một nửa quân số còn lại phải di chuyển theo đoàn quân trên Tỉnh Lộ 7B. Một cuộc triệt thoái sai lầm, tệ hại và bi thảm nhất trong chiến tranh.  Nửa đơn vị của tôi gần như bị xóa sổ. Hai người bạn thân của tôi đều là tiểu đoàn trưởng đã tự sát, nhiều đồng đội đã chết trong đớn đau tức tưởi.

Hình ảnh cuối cùng của Pleiku trong mắt tôi là dãy núi Hàm Rồng, nhưng trong trí óc tôi chỉ còn đọng lại những cái chết bi tráng của đám bạn bè đồng đội cùng với những người Pleiku mà tôi chưa kịp biết mặt, làm quen. Và trong lòng tôi, dường như Pleiku chỉ có thế. Không phải là những con đường, góc phố, là rạp ciné Diệp Kính, Thanh Bình, hội quán Phượng Hoàng, quán cà phê Dinh Điền, cà phê Văn, cà phê Lính, Bắc Hương, Thiên Lý, và lại càng xa lạ với những ngôi trường mang tên Pleime, Pleiku, Phạm Hồng Thái, Minh Đức, Bồ Đề..mà những cô học trò ngày ấy bây giờ đang mang theo cái hồn Phố Núi đi khắp muôn phương. (Giờ nghĩ lại, tôi thấy mình khờ khạo biết bao nhiêu!)

Ngày ấy, tôi là thằng lính bộ binh, một thứ lính “hạng bét”, chỉ có khốn khổ gian truân và chết chóc. Tháng năm lặn lội trong núi rừng, chỉ còn biết có súng đạn và mục tiêu trước mặt. Được chút thời gian không đủ cho một cơn say, thì đâu còn biết gì tới thơ với thẩn (mặc dù tôi vốn mê thơ - nhưng rất dốt về thơ). Ngoài bài hát nổi danh được phổ từ thơ Vũ Hữu Định, tôi chưa hề được đọc thơ các thi nhân nổi tiếng một thời của Pleiku hay viết về Pleiku. Sau này đọc Nguyễn Bắc Sơn, Nguyễn Mạnh Trinh, Kim Tuấn, Nguyễn Xuân Thiệp, Võ Ý, Cao Thoại Châu, Hoàng Khời Phong…, tôi thấy hối tiếc quá chừng. Pleiku đẹp quá, dễ thương, thơ mộng quá.

Nguyễn Bắc Sơn, nhà thơ một thời hành quân đánh giặc ở Mật khu Lê Hồng Phong, Sông Mao, nơi đơn vị tôi trú đóng, từng viết những câu thơ hào sảng ;

Ngày mai đánh giặc may còn sống
Về ghé Sông Mao phá phách chơi,
Uống rượu tiêu sầu cùng gái điếm
Đốt tiền mua vội một ngày vui

….

cũng từng bị “đày” lên Phố Núi, nhưng giờ thì đắm say ánh mắt của một nàng thiếu nữ Pleiku:

Ðứng trên núi thấy hàng đèn thị trấn
Là thấy mình buốt lạnh mấy nghìn năm
Vì đêm nay trời đất lạnh căm căm
Nên chợt nhớ chút lửa hồng bếp cũ
Nên phải nhớ mắt một người thiếu nữ
Ðã nhìn mình rất ấm một ngày xưa
Dù mai sau ngày nắng tiếp ngày mưa
Nhưng vĩnh cửu chút mơ màng thuở đó

….

Vậy mà hơn một tháng ở Pleiku tôi đã ngu ngơ, lãng phí. Không nhìn ngắm, mơ mộng với Pleiku mà chỉ biết say với rượu. “Ta say, trời đất cũng say.” Tôi đã bắt Pleiku say với tôi, mà đáng lý ra tôi phải say đắm với Pleiku mới phải. Đôi khi tôi cũng tự gạt để an ủi mình “Có thể chính mấy ông nhà thơ này đã làm cho Phố Núi đẹp hơn, thơ mộng và lãng mạn hơn những gì nó có?” Nhưng có lẽ tôi đã nhầm, sau này được dịp làm quen với những người Phố Núi, tôi chợt nhận ra rằng Pleiku đâu chỉ có những ông thi sĩ tài danh ấy, mà dường như  cứ mỗi người Pleiku đã là một nhà thơ, hay ít nhất cũng là một bài thơ chưa được viết thành lời.  Dẫu gì, tôi cũng có tội với Pleiku.

Đọc tiếp…

Share and Enjoy:
  • Digg
  • Sphinn
  • del.icio.us
  • Facebook
  • Mixx
  • Google
  • StumbleUpon
  • blogmarks
  • Technorati
  • De.lirio.us
  • Gwar
  • Reddit
  • YahooMyWeb

nha trang - chuyện cũ

Xa quê nhà đã lâu. Mỗi lần đi đến một địa danh xa lạ nào đó, nhất là những dịp lái xe chạy dọc theo một bờ biển đẹp, lòng tôi lại nôn nao cái cảm giác như đang trên đường ngược về quê cũ - Nha Trang. Thành phố đã chôn giấu giùm tôi bao hang động tuổi thơ, dấu tích của những mối tình học trò một thời vụng dại, mà sau cơn sóng tháng tư năm nào bất ngờ ập xuống, ngỡ tất cả đã biến mất, có còn chăng cũng chỉ là chút sương khói mơ hồ trong lòng một người lưu lạc.

Ngày xưa, khi còn là cậu bé học trò, tôi từng nghĩ trên thế gian này có lẽ không nơi nào thơ mộng, hiền hòa và dễ thương bằng Nha Trang của tôi. Với tôi, nơi ấy còn là xứ thần tiên nữa. Bởi khi buồn, chỉ cần đạp xe dọc theo con đường Duy Tân lộng gió, nhìn biển trời mênh mông, nghe tiếng sóng rì rào, là cảm thấy lòng mình như vừa được vuốt ve, âu yếm. Ngôi trường Võ Tánh trên đường Bá Đa Lộc cũng nằm gần biển, nên cả một thời đi học, nhờ mỗi ngày được vỗ về bằng âm thanh rạt rào của biển và tình mến yêu của thầy, của bạn, mà tôi đã quên đi nỗi buồn tuổi thơ bất hạnh, ngước mặt hăm hở nhìn bầu trời xanh bao la với bao khát khao, ước vọng. Đọc tiếp…

Share and Enjoy:
  • Digg
  • Sphinn
  • del.icio.us
  • Facebook
  • Mixx
  • Google
  • StumbleUpon
  • blogmarks
  • Technorati
  • De.lirio.us
  • Gwar
  • Reddit
  • YahooMyWeb

trang bạn hữu - truyện Tâm Thanh

Trích Tiên

Tâm Thanh

Căn cứ không quân Banak trong một ngày hè uể oải. Dưới nắng chói chang, đường bay trải dài loang loáng như có ai khéo tạt một vũng nước vuông vức ra tận vịnh Porsangen. Ba dãy trại sơn trắng, ghép thành hình chữ U nằm buồn như chợ chiều. Cái hăng-ga khổng lồ đóng cửa im ỉm. Tôi ngồi “gác kiểng” trên đài quan sát, mường tượng cảnh những chiếc máy bay F-16, F-5 tấp nập lên xuống hồi Nato còn đóng ở đây. Bây giờ chỉ còn đàn hải âu lười biếng lượn trên bầu trời trong. Giá tôi có thể thả cho đời trôi như thế. Tiếng chuông điện thoại reo. Tôi hấp tấp bắt máy:

- Ðài quan sát, phi trường Banak, tôi nghe đây ạ.

- Thân đấy hả? Nghe đây: Có một người Việt Nam, đang ở phòng cảnh sát Tana, không biết một chữ Na-uy. Họ cần người dịch. Cậu có muốn giúp họ không?

Tôi nói như trẻ con xí đồ chơi:

- Dạ, muốn chứ, thiếu tá.

- “Muốn chứ”- ông thiếu tá có tật nhái lời, lúc mới nhập trại tôi cứ tưởng ông kỳ thị, rồi tiếp -Nửa giờ nữa có người lên gác thế, anh xuống văn phòng gặp tôi. Có trực thăng tới đón. Đọc tiếp…

Share and Enjoy:
  • Digg
  • Sphinn
  • del.icio.us
  • Facebook
  • Mixx
  • Google
  • StumbleUpon
  • blogmarks
  • Technorati
  • De.lirio.us
  • Gwar
  • Reddit
  • YahooMyWeb

Tuy Hòa - thương ghét

Tuy Hòa - Thương Ghét

Phạm Tín An Ninh

T ôi không phải là người Phú Yên, cũng chẳng có mối tình nào gởi lại Tuy Hòa, nhưng dường như cái xứ có núi Nhạn sông Đà thơ mộng ấy đã mãi vương vấn tâm hồn tôi, in đậm trong ký ức tôi những mối tình đẹp, thật dễ thương của đám bạn bè, đồng đội, cùng bao kỷ niệm vui buồn một thời trận mạc. Khi ấy bọn tôi còn rất trẻ, đa số vừa mới rời khỏi học đường vài ba năm để bước chân vào nơi gió cát.

Ngày mang “sự vụ lệnh” về trình diện đơn vị tại Ban Mê Thuột, tôi và bốn thằng bạn cùng khóa cứ ngỡ cuộc đời mình sẽ dính liền với rừng núi của xứ “bụi mù trời” và “buồn muôn thuở”, chỉ còn biết nằm nghe tiếng chim kêu vượn hú. Ai ngờ sau hai tuần lang thang quanh quẩn trong con phố buồn hiu, ngắm mấy cô gái Thượng mang gùi đi xuống đi lên trên con đường A Ma Trang Long bám đầy đất đỏ, bọn tôi được ông Trưởng phòng 1 lái xe đi tìm chở về Câu Lạc Bộ Sĩ Quan, vội vàng lấy balô quân trang, rồi đưa thẳng ra phi trường Phụng Dực, tháp tùng phi cơ của ông tư lệnh, đại tá Lữ Lan, bay xuống đơn vị đang hành quân tại Khánh Hòa, ngay vùng biển quê hương tôi. Đọc tiếp…

Share and Enjoy:
  • Digg
  • Sphinn
  • del.icio.us
  • Facebook
  • Mixx
  • Google
  • StumbleUpon
  • blogmarks
  • Technorati
  • De.lirio.us
  • Gwar
  • Reddit
  • YahooMyWeb

trang bạn hữu - thơ Khánh Hà

Cổ Thành

(tặng Phạm Tín An Ninh)

Giữ hộ em một góc Cổ Thành

bên bờ biển xanh rạt rào sóng vỗ

rặng thùy dương vi vu trong gió

bản tình ca bất tận

thuở mới vào đời

Giữ hộ em

tiếng chuông chùa đồng vọng trên đồi cao

tiếng chuông nhà thờ ngân nga khi chiều xuống

những hàng phượng xanh mùa hè đỏ thắm

những cây muồng rực rỡ hoa vàng

Giữ hộ em

hàng dừa nghiêng nghiêng trong nắng

rặng phi lao uốn mình trong gió

và những con đường tĩnh mịch

hai hàng cây chụm đầu tình tự

những góc đường, hè phố ngóng trông nhau

một đêm trăng nào

dấu chân ta in trên bờ cát trắng

Năm tháng trôi qua

đôi ta đã già

tất cả đã tàn phai

Ở hai nơi nào đó trên trái đất

đêm ngày khác nhau

qua những bến bờ lưu lạc

vẫn còn trong em và trong anh

sừng sững một Cổ Thành

Cổ Thành của riêng ta

Ta sẽ về

thắp lại vầng trăng thơ ấu

trổi lên khúc nhạc muôn đời của biển

đánh thức những rặng thùy dương

để nghe lại bản tình ca bất tận

thuở mới vào đời.

Khánh Hà

Share and Enjoy:
  • Digg
  • Sphinn
  • del.icio.us
  • Facebook
  • Mixx
  • Google
  • StumbleUpon
  • blogmarks
  • Technorati
  • De.lirio.us
  • Gwar
  • Reddit
  • YahooMyWeb

Lá Thư Úc Châu

( trên báo VNTP, Trang Nhà ĐHSP, QGHC..)

Tập truyện “Rừng khóc giữa mùa xuân”
của Phạm Tín An Ninh phát hành tại Úc châu

NXVan

Trong khoảng thời gian 6 năm trở lại đây, tại hải ngoại, chúng ta thấy có sự xuất hiện của một nhà văn gốc lính là anh Phạm Tín An Ninh (PTAN) mà một số tác phẩm của anh hầu hết được các báo chí Việt ngữ khắp nơi đăng tải vì có liên quan đến thời chinh chiến trước 75 với tình chiến hữu, tình đồng đội, tình đồng bào ruột thịt, nói chung là Tình Người đã nằm bàng bạc hầu hết trong các câu chuyện rất bi tráng của anh ở cả hai miền Nam Bắc kể cả những mảnh đời tan vỡ sau 75.

Lần trước, anh đến Úc châu với hành trang là tập truyện ở Cuối Hai Con Đường, Ls NV Thuần là Trưởng ban Tổ chức các buổi Ra Mắt Sách tại Úc châu. Lần này cũng vậy, nhưng vì lý do phải điều trị mổ mắt ở Na uy, anh đã không thể đến Úc được nên Ls Thuần đã tiếp tục gánh vác vì nghĩa cả. Nhờ sự hổ trợ tích cực của Cộng đồng NV tại Úc cũng như quý đồng hương khắp nơi, Ls Thuần đã hăng hái tổ chức các buổi ra mắt sách rất thành công tại 4 thành phố lớn ở Úc là Sydney, Brisbane, Adelaide và Melbourne.

Chúng ta đã từng say mê đọc các truyện của anh PTAN. Cái đẹp của các tác phẩm của anh không chỉ thể hiện cái tình người qua những giòng chữ, những trang sách, mà cao quý hơn nữa, anh đã đến Úc châu mang theo cả trái tim nhân hậu. Điều này ít nhà văn nào làm được. Lần trước, anh đã tặng hiến tất cả số tiền thu được trong các buổi RMS tại Úc ước lượng có trên $30 ngàn Đô Úc (AUD) đến quý TPB/VNCH hiện còn đang sống lấy lất ở quê nhà. Anh PTAN là người đã sinh ra đứa con tinh thần là tập truyện, Ls Thuần lại là người thực hiện hoài bão của anh PTAN tại Úc châu. Trong chuyến đi lần trước, anh PTAN đã tự bỏ tiền túi cho tất cả các chuyến bay đến Úc cũng như di chuyển trong nội địa cho cả anh lẫn chị và cháu gái mà không nhận lại một đồng nào! Lần này cũng thế, chỉ có điều khác biệt là không có tác giả PTAN. Nhưng với nhu cầu đặc biệt của Cộng đồng NV ở Úc, Anh PTAN cũng như Ls Thuần đã hoan hỉ Ra mắt sách nơi đây là để tiếp tục góp phần nhỏ vào việc giúp đỡ các TPB/VNCH ở quê nhà, phần khác gây quỹ Xây Dựng Đài Tưởng Niệm Thuyền Nhân tại thành phố Brisbane mà Cộng đồng hằng đeo đuổi bấy lâu nay.

Nhà văn PTAN (người chưa bao giờ chịu nhận mình là nhà văn) sinh năm Quí Mùi (1943). Quê quán Làng Phú Hội, Huyện Vạn Ninh, Tỉnh Khánh Hòa. Mẹ anh mất lúc anh mới lên 3 tuổi. Cha bị chết trong tù cải tạo tháng 6/1976. Lúc nhỏ học ở trường Văn Hóa rồi được tuyển sang Trường Võ Tánh, Nha Trang. Đi lính Khóa 18 SQTB Thủ Đức. Mười năm phục vụ tại SĐ 23 BB (chuyên về tác chiến và tham mưu). Bị tù cải tạo 8 năm. Vượt biên và định cư tại vương Quốc Na uy cùng gia đình năm 1985. Làm việc tại Ngân hàng Bưu Điện Na uy và về hưu đầu năm 2008.

Trong tập truyện Rừng Khóc Giữa Mùa Xuân (RKGMX) lần này, anh PTAN có nhắc đến những khung trời, những địa danh, những con người mà người viết khá quen thuộc một phần trong đó. Điều đó cũng dễ hiểu vì ở quê nhà, người viết ở rất gần nhà anh, hai anh em ở cách nhau chỉ chừng 3 cây số. Chúng tôi không muốn, và cũng không thể đi sâu vào các tình tiết éo le của các câu chuyện kể vì trang báo có hạn. Điều này xin dành cho sự tò mò, ngưỡng mộ và khám phá của quý độc giả. Tuy nhiên người viết xin đóng góp vài ý nghĩ trong vài câu chuyện sau đây:

Đọc tiếp…

Share and Enjoy:
  • Digg
  • Sphinn
  • del.icio.us
  • Facebook
  • Mixx
  • Google
  • StumbleUpon
  • blogmarks
  • Technorati
  • De.lirio.us
  • Gwar
  • Reddit
  • YahooMyWeb

trang bạn hữu- truyện Tâm Thanh

Cổ Thành

(tặng Phạm Tín An Ninh)

Tôi ngạc nhiên vô cùng khi nhận được một phong thư lạ, giấy Việt Nam, tem và nhật ấn Ba-lan. Thư không đề ngày tháng, không ký tên. Nhưng khi tôi bắt đầu đọc thì từng chữ, từng giòng sáng ngời kỷ niệm. Và tôi bàng hoàng chất ngất khi đọc tới giòng cuối cùng “Tái bút: J’habite la Citadelle” (em đang ở Cổ Thành).

Thuở đó, Nha Trang. Từ mùa hè, tôi thấy tâm hồn và thân thể tôi có nhiều thay đổi… bạo. Tôi bắt đầu thấy rạo rực bâng khuâng và thích nhìn trộm các nữ sinh cùng lớp. Ngày tựu trường (tôi học trường Văn Hóa) thấy một số học chung đệ ngũ như Bạch Yến, Ánh Mai, Bích Tùng v.v. đã vào cùng lớp, tôi thấy ‘yên bụng’. Nhưng tôi vẫn cảm thấy thiếu một người, mà không rõ rệt là ai, tất nhiên không phải mấy thằng khỉ khọt Bổn, Cường, Ngạn, Trương. Cho tới khi thầy giám thị đưa một đứa con gái tóc bom-bê vào, thì tôi biết đứa con gái tôi cảm thấy thiêu thiếu cả tuần nay chính là con này- Phương Thi. Tôi cũng thấy mới qua ba tháng hè mà nó đã thay đổi nhiều, có cái gì khác … con trai. Dáng đi sao đâm ra yểu điệu thế kia? Áo của nó giặt thuốc gì mà sạch thế? Và làn da kia, ba tháng hè nắng nôi mà cứ trắng như trứng gà bóc! Và ôi, đôi mắt khi nó thoáng nhìn tôi… tôi thấy lòng bay bổng lên! Những dấu hiệu đó, hồi học lớp đệ ngũ, tôi đâu có thấy. Ngay cái hôm chia tay đi nghỉ hè, nó bao tôi ăn chè trước cổng trường và tôi quẹt mồm hẹn “năm tới mình sẽ học chung?” nó nói “ai biết được sang năm?” nó vẫn chỉ là một “thằng” bạn xinh xắn, dịu dàng, cùng tôi ganh đua học giỏi.

Thầy giám thị hội ý với thầy Ph., rồi bảo tôi ngồi xích vô (tôi ngồi đầu bàn đầu) và nói với Phương Thi:

- Ngồi tạm chỗ này.

Phương Thi rón rén ngồi xuống. Tôi nghe mát rượi bên cạnh, mà lòng thì nóng ran. Cái thời tiết bên nắng bên mưa kỳ lạ này làm tôi rùng mình, và tôi nghe một mùi hương ngọt ngào, nhưng nồng nàn át cả mùi phấn bảng, mùi gỗ ẩm từ bàn ghế, và mùi khét nắng của bọn con trai. Đó không phải là mùi nước hoa của các cô giáo. Đó là mùi thơm tự nhiên của lúa non, mùi nước dừa. Tôi “chịu trận” với mùi hương đó, và vài tiếng cười khọt khẹt của mấy thằng cốt đột đằng sau cho tới hết giờ học, không một chữ vào đầu. Chuông ra chơi reo, tôi mới dám quay sang mỉm cười với Phương Thi. Phương Thi mỉm cười lại. Nụ cười tươi sáng, dịu dàng, nhưng khi soi vào đáy đôi mắt ân cần đó, tôi đoán ngay là nụ cười của tôi chắc rất méo mó, khó coi. Phương Thi nói khẽ:

- Ph…ú…!

Giọng của nó cũng khác, trong hơn, mềm hơn, nhiều gió hơn trong âm ‘ph’. Và chính cái giọng này vừa gọi tên tôi đấy! Từ đó tôi không bao giờ gọi Phương Thi là ‘nó′ hay ‘con’ nữa, dù giữa mấy đứa con trai ngổ ngáo hay… trong đầu. Trong đầu tôi, Phương Thi trở thành ‘nàng’, ‘nàng Thơ’, gọi tắt là Thi. Cũng chả có gì là lạ, ngay từ đệ ngũ hai chúng tôi đã thi nhau viết văn, sưu tập thơ.

Đọc tiếp…

Share and Enjoy:
  • Digg
  • Sphinn
  • del.icio.us
  • Facebook
  • Mixx
  • Google
  • StumbleUpon
  • blogmarks
  • Technorati
  • De.lirio.us
  • Gwar
  • Reddit
  • YahooMyWeb

Đọc “Rừng Khóc Giữa Mùa Xuân” - Quỳnh Đào

Quỳnh Đào

Là một cựu chiến binh quân lực VNCH, như đa số những đồng đội của anh, nhà văn Phạm Tín An Ninh đã phải trải qua nhiều năm trường gian khổ trong trại tù cải tạo. Anh viết nhiều về thân phận những người hùng ngã ngựa, mà theo nhà thơ Quan Dương, những người lính VNCH chỉ cần giở sách anh ra là hầu hết sẽ thấy chính mình trong đó. Trong cả hai tác phẩm của mình, gồm tác phẩm đầu tay “Ở Cuối Hai Con Đường” và tác phẩm thứ hai với tựa đề “Rừng Khóc Giữa Mùa Xuân” được giới thiệu đến độc giả ngày hôm nay, tác giả đều có những dòng vinh tặng trang trọng dành cho thân phụ của anh đã không may qua đời trong traị tù cải tạo cùng với đồng đội, bạn bè của anh đã chết trong chiến tranh hay ngục tù cộng sản.

Trong những cuộc phỏng vấn, Phạm Tín An Ninh nói rằng anh không hề muốn là một nhà văn, mà chỉ muốn viết để vơi bớt những đớn đau dằn vặt trong lòng mình, đặc biệt là để chia sẻ những nỗi đau thương mất mát với đồng đội của mình. Thế nhưng anh đã đạt được những thành công vượt ra ngoài dự tính trong những buổi ra mắt sách tại Hoa Kỳ cũng như tại Úc Châu. Các truyện ngắn của anh đã tạo nên tiếng vang tại nhiều nơi trên thế giới, và được sự đón nhận và cảm thông đến từ mọi thành phần độc giả, kể cả thế hệ trẻ, bao gồm thế hệ một rưỡi ở nước ngoài như cá nhân người soạn bài viết này, và ngay cả nhiều độc giả rất trẻ ở trong nước. Điều này cho thấy ngòi bút của Phạm Tín An Ninh có sức rung động vượt ra khỏi giới hạn của những hồi tưởng dành riêng cho những người lính, vì nó đã phản ảnh được những gì rộng lớn hơn, đó là số phận bi thảm của cả một đất nước và một dân tộc từ sau ngày miền Nam thất thủ, và những long đong của thân phận con người.

Trong “Rừng Khóc Giữa Mùa Xuân”, cũng như trong “Ở Cuối Hai Con Đường”, hình ảnh những người lính VNCH trước và sau tháng 4/1975 cũng như tình cảnh của những người thân thương của họ, là những hình ảnh nổi bật nhất, bi tráng nhất. Đây là những người trai trẻ sanh ra lầm thời đại, lầm thế kỷ. Chúng ta gặp những người bạn cùng làng, cùng lớp, hoặc cùng khoá huấn luyện, cùng đơn vị với tác giả, những thanh niên yêu đời, yêu người, với những ước mơ hiền hòa, những vui đùa vô tư như biết bao nhiêu thanh niên khác, nhưng họ chỉ được hưởng một thời gian hạnh phúc quá ngắn ngủi, để rồi phải vào lính xông pha ngòai trận địa.

Nhiều người trong số họ đã vĩnh viễn ra đi, những sự ra đi quá sớm, quá đột ngột, như nhân vật Phan trong truyện ngắn ‘Những đám mây trên đỉnh núi Phổ Đà‘. Người học trò hiền hòa tốt bụng, đa sầu đa cảm tên Phan chỉ vừa biết yêu, nhưng tốt nghiệp khoá huấn luyện Thủ Đức không bao lâu thì tử trận. Phạm Tín An Ninh viết về những mất mát về sinh mạng hết sức to lớn của cả một thế hệ thanh niên trong cuộc chiến tranh phi nghĩa do Cộng Sản Bắc Việt gây ra, và` buộc miền Nam tự do phải chống trả lại để tự vệ. Trong thời gian giữa tháng 3/ 75, sau khi thành phố Ban Mê Thuột mất vào tay giặc, đơn vị của anh từ Pleiku sau đó phải triệt thoái theo con đường tử lộ 7B, khi về đến Tuy Hòa chỉ còn gần một phần tư quân số. Anh viết, ‘Rất nhiều đồng đội, bạn bè của tôi đã chết hay mất tích. Hai thằng bạn thân đều là tiểu đòan trưởng đã tự sát trước khi vào tay giặc’.

Những người sống sót qua cuộc binh đao, qua những năm tháng đoạ đày trong trong ngục tù cộng sản, khi được thả về lại phải đối diện với nhiều oan khiên trong cuộc sống. Bản thân tác giả, sau 8 năm tù tội, trở về làng cũ gặp người bạn cùng làng đã được thả về trước tác giả một năm. Cả hai bây giờ phải sống lang thang bên lề xã hội. Nhân vật Hồ Ngọc, người bạn tác giả, người quân nhân VNCH cao lớn đẹp trai tài hoa với biệt tài thổi sáo ngày xưa, bây giờ kiếm sống qua ngày bằng việc làm vườn trồng rau và sửa chữa xe đạp. Trong thời gian anh ở tù, người vợ xinh đẹp của anh bị một tên công an hãm hại và sau đó chị buộc lòng phải lấy hắn ta và có với hắn ta một đứa con gái. Còn những oan trái khác trong đời Hồ Ngọc buộc lòng anh không thể trở lại với người con gái anh đã từng yêu tha thiết, thế nhưng khi Hồ Ngọc tình cờ gặp lại tác giả hai mươi năm sau, nơi xứ lạ quê người, sau khi tâm sự cùng nhau, Hồ Ngọc không hề có thái độ oán trách về những bất hạnh mà mình đã gánh chịu mà chỉ có những lời từ tốn bao dung: …’Cả dân tộc đều tan tác bi thương qua cuộc thăng trầm quá lớn ấy, nỗi đau của mỗi một chúng ta đâu còn có nghĩa gì. Tất cả chỉ đáng thương hơn là đáng trách!’.

Thái độ bao dung nhân ái của nhân vật Hồ Ngọc cũng chính là thái độ của nhà văn Phạm Tín An Ninh về con người, về cuộc sống. Thật vậy. Nhà văn trải lòng mình rất rộng. Tình yêu thương anh dành cho quê hương, cho con người trên dải đất tang thương đó dàn trải mênh mang, sâu thẳm, thiết tha. Trong hầu hết các mẫu chuyện, khói lửa chiến tranh những ngày trước tháng 4 năm 75, và rồi thế giới đảo điên, đầy tăm tối và hận thù sau ngày tháng định mệnh đó chỉ là những dàn cảnh ở phía sau, và tình huynh đệ chi binh giữa những người chiến binh sống chết với nhau, hy sinh thân mình để bảo vệ đồng đội, đồng bào, những nghĩa tình, những nghĩa cử, những tấm lòng nghĩa hiệp giữa người và người khi sự ác bao trùm lên cuộc sống, đây mới chính là những điều nổi bật nhất gây xúc động và ấn tượng sâu xa trong lòng người đọc.

Trong những hòan cảnh não lòng tưởng chừng như vô vọng, ngòi bút và trái tim đầy thương cảm của Phạm Tín An Ninh thường chọn cho những nhân vật của mình những kết thúc tốt đẹp. Điển hình là truyện ngắn với tựa đề đã được chọn làm tựa đề cho tòan tuyển tập, đó là ‘Rừng Khóc Giữa Mùa Xuân’. Tác giả viết về cuộc đời lao đao của những người vợ lính, những người lỡ yêu những chàng trai khoác áo chiến binh, những cuộc tình thờì ly loạn ‘Anh vê` với em rồi mai lại đi’ ma` Trần Thiện Thanh, người nhạc sĩ của lính đã đưa vào bất tử. Tác giả viết vê` Pleiku, thành phố lính, nơi mà ‘Những người vợ lính sống ở đây dường như chỉ để chơ` chồng trở vê` sau những cuộc hành quân, hoặc để chăm sóc chồng những ngày nằm trong quân y viện…Trong số ấy đã có biết bao nhiêu người trở thành goá phụ!’ Người vợ lính trong câu chuyện này mất chồng lạc con trong cuộc triệt thoái khỏi cao nguyên vào tháng 3/75. Chị vượt biên sau ngày mất nước. Hai mươi năm sau từ đất nước Na-Uy xa xăm, chị trở về vùng núi đồi cao nguyên để tìm xác chồng, người lính Biệt Động anh dũng năm nào, và cũng để tìm tông tích đứa con trai đầu lòng. Mặc cho khoảng cách thờì gian và không gian sau hai mươi năm đã có quá nhiều thay đổi, thế mà do một sự dun rủi tình cờ, chị đã gặp lại con trai mình và đã thắp được nén hương cho trọn nghĩa tình trước mộ chồng.

Những dun rủi, những tình cờ, những trùng hợp ngẫu nhiên cho phép những kẻ phải xa nhau trong hòan cảnh oan trái được gặp lại nhau để giải bầy tâm sự, để những người còn sống được bày tỏ tình nghĩa của họ đối với những người đã phải ra đi một cách oan khuất, để những hiểu lầm được giải toả, những lầm lỗi được tha thứ, để tình yêu va` tình thương có dịp hàn gắn lại những đau thương quá lớn - đây là những diễn biến thường xảy ra trong các câu chuyện của nha` văn Phạm Tín An Ninh.

Theo tác giả, một số tình huống này là tình huống có thật. Nhưng có lẽ nhà văn cũng muốn mượn các sáng tác của anh để bày tỏ nỗi khát khao của chính mình và đồng đội anh trong đời sống thật, những người chiến binh anh dũng thuở nào giờ đây đầu đã hai thứ tóc nhưng trong lòng vẫn còn những vết thương chưa liền da.

Anh đã viết ‘Tuổi sắp già, mà tôi còn mang nhiều món nợ, biết làm sao trả cho xong. Nợ núi sông, nợ máu xương bè bạn. Mà khổ thay, tôi cứ mãi là thằng lính hèn mọn, bạc tình.’ Tâm sự của anh là tâm sự của một người có lương tâm và tinh thần trách nhiệm cao, đã hy sinh và cống hiến rất nhiều cho quê hương đất nước, là một trong những người đã gánh chịu nhiều nhất và thiệt thòi nhiều nhất sau ngày mất nước, nhưng vẫn cảm thấy sự hy sinh của mình là chưa đủ.

Phú Hội, Ninh Hòa, Nha Trang, Pleiku… Quê hương thơ mộng hiền hòa của anh thưở nào, những địa danh mà anh và đơn vị của anh đã đi qua, những chiến địa nơi anh và đồng đội của anh đã hiên ngang chiến đấu, tất cả đều được anh mô tả lại một cách linh hoạt và sống động. Cho dù đã ổn định đời sống nơi xứ người nhưng trong tâm tưởng của các nhân vật trong tác phẩm vẫn là một niềm hoài niệm xót xa về tất cả những gì toàn thể nhân dân miền Nam đã bị cướp đi từ khi đất nước rơi vào tay cộng sản: một quê hương tươi đẹp, một xã hội tự do nhân bản đầy tình người.

Đã gần 40 năm qua kể từ 30 tháng 4/ 75. Đó là ngày tăm tối nhất trong lịch sử dân tộc Việt Nam nhưng đó cũng là ngày thế giới bắt đầu được khai sáng về hiểm hoạ cộng sản. Hàng triệu người Việt Nam liều chết vượt biển ra đi tìm tự do đã là một bản cáo trạng hùng hồn về một chế độ phi nhân.

Từ  ngày ấy đến ngày hôm nay, ý thức hệ CS đã bị đào thải. Những hiểu biết sai lầm về chiến tranh VN đã được giải toả. Thế giới tự do hiện nay đều đồng thanh lên án chế độ độc tài tại Việt Nam. Chính nghĩa đấu tranh để bảo vệ miền Nam tự do của quân lực VNCH đã được sáng tỏ, và danh dự của những chiến sĩ của quân lực VNCH đã được phục hồi.

‘Rừng Khóc Giữa Mùa Xuân’ đã ra đời trong bối cảnh ấy, đã vẽ lại cho độc giả trong và ngoài nước chân dung thật của người lính VNCH mà tuyên truyền cộng sản đã tìm cách xuyên tạc và bóp méo. Đó là hình ảnh của những chiến sĩ kiên cường, những con người có trái tim, tâm hồn và nhân cách.

Chúng ta đọc ‘Rừng Khóc Giữa Mùa Xuân’ để thấy thương cho đời lính gian nan, để nghiêng mình tri ân và ghi nhớ rằng trong suốt hai mươi năm từ 1954 đến 1975, tuy rằng đất nước ở trong hòan cảnh chiến tranh, nhưng người dân miền Nam Việt Nam đã được sống trong tự do và no ấm, đó là nhờ sự hy sinh lớn lao của các chiến sĩ quân lực Việt Nam Cộng Hòa.

Trong lịch sử của quê hương Việt Nam tự do, trong trái tim của những người Việt Nam yêu chuộng tự do và dân chủ, các chiến sĩ quân lực Việt Nam Cộng Hòa  là những anh hùng.

Quỳnh Đào

(Melbourne - Úc Châu)

Share and Enjoy:
  • Digg
  • Sphinn
  • del.icio.us
  • Facebook
  • Mixx
  • Google
  • StumbleUpon
  • blogmarks
  • Technorati
  • De.lirio.us
  • Gwar
  • Reddit
  • YahooMyWeb

trang bạn hữu

thơ - cung vĩnh viễn

Ba mươi năm ở Na uy

Như thế là ta ở xứ người
ba mươi năm chẵn. Khổ thân tôi
thời gian đằng đẵng thiên thu ấy
ta lại còn đi ngược hướng đời

Ta gẫm thân ta mấy đoạn đường
chín năm ở Bắc chốn quê hương
cái thời niên thiếu trôi êm ả
kỷ niệm mơ màng trong khói sương

Vô Nam. Miền đất phì nhiêu ấy
nuôi dưỡng đời ta những ngọt bùi
những mộng thanh xuân tròn tuổi mộng
đợi dốc lòng ra tạ nghĩa đời

Thế mà tan tác trời tao loạn
nhốn nháo dân tình cuộc hỗn mang
bao nhiêu mất mát trong oan trái
nghẹn ngào lịch sử lật sang trang

Đất mẹ điêu tàn niềm bi phẫn
quê cha tơi tả nỗi đau thương
thôi đành bỏ xứ mà đi vậy
đi. Dẫu là đi cũng đoạn trường

Thế giới mở vòng tay chào đón
ta được định cư ở xứ này
đất lạnh nhưng tình người ấm áp
bát cơm Phiếu mẫu nặng ơn dầy

Con cái giờ đây đã trưởng thành
tuổi già thanh thản chẳng lo toan
nhưng sao trong nỗi bình an ấy
vẫn thiếu điều chi rất lạnh lùng

Ở trong những đêm trường trăn trở
thấy mờ bóng mẹ nhạt hình cha
thì ra mới hiểu là ta đã
ba chục năm qua sót nỗi nhà

Cung Vĩnh Viễn

Share and Enjoy:
  • Digg
  • Sphinn
  • del.icio.us
  • Facebook
  • Mixx
  • Google
  • StumbleUpon
  • blogmarks
  • Technorati
  • De.lirio.us
  • Gwar
  • Reddit
  • YahooMyWeb

hạnh phúc xót xa

T ôi vô cùng ngạc nhiên, khi nhận được một thiệp mời đám cưới gởi qua đường bưu điện, danh tánh nhà trai, nhà gái và cả cô dâu chú rể đều xa lạ. Gần nửa giờ ngồi “điểm danh” tất cả bà con, bè bạn xa gần, vợ chồng tôi và mấy đứa con cũng chẳng tìm ra “tông tích” họ là ai. Nghe bạn bè kể lại, một số không ít người Việt mình thích có nhiều thực khách tham dự tiệc cưới của con cháu. Khách càng đông càng chứng tỏ được thế giá của gia đình. Vì vậy có người chỉ gặp ai ở đâu đó một lần thoáng qua, cũng có thể trở thành “quan viên hai họ”. Hơn nữa, ở cái vương quốc nhỏ bé và hiền lành này, muốn tìm ai cứ việc mở cuốn điện thoại niên giám hoặc vào guleside gõ cái tên là có ngay số phone và địa chỉ. Cũng có thể là do một ông bà khách nào đó được mời nhưng hồi báo không thể tham dự được nên vợ chồng tôi được chọn để “điền vào chỗ trống cho có đầy đủ ý nghĩa”?

Đọc tiếp…

Share and Enjoy:
  • Digg
  • Sphinn
  • del.icio.us
  • Facebook
  • Mixx
  • Google
  • StumbleUpon
  • blogmarks
  • Technorati
  • De.lirio.us
  • Gwar
  • Reddit
  • YahooMyWeb

điểm sách

Đọc Phạm Tín An Ninh

Truyện của Phạm Tín An Ninh đi thẳng vào lòng người, thực ra không cần mưỡu đầu hay bạt đuôi. Nếu phải có, thì người viết, ngoài thế giá văn chương, nên là một người phần nào đã trải qua như anh - từng xông pha trận mạc, từng đi tù cộng sản, từng vui tuổi thơ hoa mộng, từng một thời đào hoa bay bướm, rất chiu chắt tình bạn, và bây giờ được bình tâm ôn chuyện xưa… Người như thế không hiếm trong số các bạn hữu đông đảo của anh. Nhưng anh Ninh lại thích dành danh dự cho một người hoàn toàn không đạt được một tiêu chuẩn nào trong các tiêu chuẩn trên - một độc giả thầm lặng trong số hàng vạn độc giả của anh.

Độc giả này chỉ có mỗi một ưu thế là cư ngụ chung với tác giả trên một vương quốc nhỏ bé yên bình miền Bắc cực. Và vì là đồng cư của anh, trong thời gian gần đây, hầu như mỗi tuần độc giả này lại nhận được một điện thư hỏi “Bạn ở Na-uy có biết Phạm Tín An Ninh không, sao viết cảm động thế?” Câu trả lời rất đơn giản: Phạm Tin An Ninh là một người sống thiết tha, và viết chân thành. Văn anh trở thành một dòng chảy hồn nhiên bắt nguồn từ đời sống và song song với đời sống. Anh kể về đời tù cải tạo ở Nghĩa Lộ với cùng một giọng đôn hậu như khi kể về tuồi thơ ở Vạn Giã, Nha Trang.

Anh Ninh sống thế nào viết thế nấy. Nhờ đó, mỗi câu chuyện, dù rất lạ lùng, ẩn hiện bóng dáng quen thuộc của chính người đọc. Nhiều hình ảnh đẹp khó tìm thấy trên đời (như quản giáo Nguyễn Văn Thà trong truyện ruột Ở Cuối Hai Con Đường), không cần tác giả cam đoan có thật, ta vẫn muốn tin là có thật, để đời đáng sống hơn. Đọc Phạm Tín An Ninh ta có cảm tưởng như những mảnh đời phiêu bạt tha thiết gọi nhau, xum họp trong lòng mình. Chuyện vinh nhục đời lính, chuyện đắng cay tù cải tạo, chuyện HO ở tuổi tri thiên mệnh… từ trên 30 năm nay đã hàng ngàn người kể, đến nỗi sắp thành nhàm chán, bỗng Phạm Tín An Ninh xuất hiện, khai quật những di tích mới.

Làm mới chuyện cũ, biến chuyện cũ thành gần như cổ tích thời đại, là đóng góp đặc sắc nhất của anh trong văn đàn hải ngoại. Khác với cổ tích thần tiên, truyện của anh chứa nhiều nghịch cảnh, đọc dễ chảy nước mắt, nhưng chúng ta có thể yên tâm mà đọc, vì trong mọi nghịch cảnh, kể cả thảm cảnh thù hận và tình yêu tan vỡ, Phạm Tin An Ninh không bao giờ dập tắt ngọn nến cuối cùng - niềm tin. Trên con đường thành công quá bất ngờ, anh thường tâm sự mình không phải là nhà văn. Nhưng anh đã cầm bút như bất cứ nhà văn lớn nhỏ nào - khai thác đời sống. Anh tìm người. Anh săm soi tìm người, và anh may mắn hơn Diogènes - không cần thắp đuốc lang thang, anh vẫn thấy bóng người ở mọi ngả đường. Dù đôi khi dáng người mờ nhạt sau dáng thú - như nơi nhân vật Hồng Hương trong truyện Chiếc Nhẫn - anh vẫn phù chú ‘bắt’  đương sự cởi bỏ lốt thú. Hoặc giả trong những tình huống hoàn toàn bế tắc - như trong truyện Ba Dòng Nước Mắt, một phiên bản mới của Lưu Bình Dương Lễ  - anh lại khai thông, cho tất cả chảy về hồ thủy chung, cái chung thủy không chỉ cần thiết cho tình vợ chồng. Thủy chung với nhau và thủy chung với căn tính con người hình như là đặc tính của cả văn lẫn người Phạm Tín An Ninh.

Nhờ sống và nhìn đời bằng phong thái ấy mà anh cho chúng ta thấy ở cuối mọi ngả đường luôn hiện ra một điểm hội tụ sáng ngời nhân tính.

Tâm Thanh

Share and Enjoy:
  • Digg
  • Sphinn
  • del.icio.us
  • Facebook
  • Mixx
  • Google
  • StumbleUpon
  • blogmarks
  • Technorati
  • De.lirio.us
  • Gwar
  • Reddit
  • YahooMyWeb

vệt nắng cuối chiều

(Quí mến tặng vợ chồng em Trần H - Florida)

T háng 7/75, khi mọi người vẫn còn đang ngơ ngác, chưa kịp hoàn hồn trước bao thù hận, mất mát chia lìa, thì ở khu làng biển nghèo Bá Hà, một cậu bé 15 tuổi lại ngỡ ngàng trước một tin vui - có mẹ. Khi bà ngoại dắt Hưng vào nhà và chỉ một người đàn bà xa lạ, bảo đó là mẹ mình. Hưng bất ngờ đến sững sờ, cứ ngỡ như bà mẹ này vừa mới từ trên trời rơi xuống.

Từ khi sinh ra, rồi cả một thời tuổi thơ Hưng chỉ sống với bà ngoại. Ngoại nghèo khổ, một thân một mình vất vả làm thuê, gánh mướn, chắt chiu nuôi đứa cháu duy nhất của mình. Hưng lớn lên bằng tấm lòng bao la của ngoại và sóng gió của biển khơi mênh mông. Trò chơi chỉ là rượt theo các chú dã tràng trên bờ biển vắng hoặc nhặt những chiếc vỏ ốc, vỏ sò sau mỗi lần thủy triều lên xuống. Càng lớn Hưng càng khôi ngô, khỏe mạnh. Có lẽ nhờ tiếng hát ru hời của ngoại cùng âm thanh rạt rào của biển luôn an ủi vỗ về mà Hưng gần như quên hẳn nỗi bất hạnh mồ côi và hun đúc Hưng thành một đứa bé khôn ngoan, thánh thiện, sớm biết nhìn bầu trời xanh bao la mà khát khao bao điều ước vọng.

Năm mới lên tám tuổi, vừa hết lớp ba, dù rất say mê học hành nhưng không đành nhìn ngoại ngày một còng lưng, Hưng phải xin nghỉ học để đi làm phụ ngoại. Theo ghe lưới cá của mấy người hàng xóm. Thời gian nghỉ ngơi, ở nhà tự học, đọc sách vở mà Hưng mượn được hoặc mua lại từ những bạn bè hay các anh chị học sinh lớn tuổi trong làng. Hưng ít khi hỏi ngoại về cha mẹ mình, vì Hưng không hề biết mặt họ, và trong ký ức non nớt cũng như trong cả những giấc mơ của Hưng cũng không bao giờ có hình ảnh cha mẹ. Chỉ nghe bà ngoại kể là cả hai người đều bị bạo bệnh qua đời lúc Hưng mới sinh ra. Có lẽ thấy tội nghiệp đứa cháu côi cút của mình, bà không muốn Hưng phải suy nghĩ hay nhớ đến chuyện buồn này, nên chỉ kể vội một đôi lần, lúc Hưng mới lớn lên và bắt đầu nhận hiểu đôi điều ở quanh mình. Rồi không bao giờ bà nhắc lại nữa.

Đọc tiếp…

Share and Enjoy:
  • Digg
  • Sphinn
  • del.icio.us
  • Facebook
  • Mixx
  • Google
  • StumbleUpon
  • blogmarks
  • Technorati
  • De.lirio.us
  • Gwar
  • Reddit
  • YahooMyWeb

chuyện người lính trinh sát

Tiểu Đoàn đang hành quân ở Ngân Sơn thì có lệnh kéo ra quốc lộ để di chuyển khẩn cấp. Đám lính tráng buồn thiu. Vì vùng này rất nổi tiếng có nhiều cô gái quê làn da nõn nà xinh đẹp, mà mỗi lần đơn vị ghé lại đây, thế nào cũng có vài chàng lính trẻ chấm dứt cuộc đời độc thân vui tính. Lần này đơn vị đi xa, nên trên các chiếc xe GMC thấp thoáng bóng vài cô con gái mặc áo lính. Thông cảm cho các đôi vợ chồng mới, ông Tiểu Đoàn Trưởng bảo các sĩ quan lơ đi, để cho các cô dâu được đi theo. Khi đến bờ biển Tuy Hòa, Tiểu Đoàn tiếp nhận một Chi Đoàn Thiết Quân Vận M-113 tăng phái, rồi tất cả xuống tàu Hải Quân ra biển. Sau hai ngày đêm hải hành lênh đênh, chúng tôi được lệnh đổ bộ lên bờ biển Phan Thiết, ngay phía trước một Phật đài đang xây dang dở, nằm không xa phía dưới phi trường và Quân Y Viện Đoàn Mạnh Hoạch.

Tiểu Đoàn chúng tôi, một đơn vị lưu động, đặt dưới sự điều động trực tiếp của Quân Đoàn, có nhiệm vụ khai thông Quốc Lộ số 1 từ Bình Thuận ra đến Khánh Hòa, đặc biệt quãng đường dài hơn 50 cây số chạy dọc theo mật khu Lê Hồng Phong, địch quân đang kiểm soát. Đồng thời truy diệt mọi lực lượng địch trong vùng, giúp các Tiểu Khu bình định lãnh thổ. Đọc tiếp…

Share and Enjoy:
  • Digg
  • Sphinn
  • del.icio.us
  • Facebook
  • Mixx
  • Google
  • StumbleUpon
  • blogmarks
  • Technorati
  • De.lirio.us
  • Gwar
  • Reddit
  • YahooMyWeb

cuối trời thênh thang

(Thay vòng hoa tiếc thương Phạm Vương Thục)

“những sớm mai lửa đạn
những máu xương chập chùng

xin cho một người vừa nằm xuống

thấy bóng Thiên đường cuối trời thênh thang”
TCS

Đã lâu lắm, kể từ buổi trưa u buồn ngày 30/4/75, khi nghe Trịnh Công Sơn hát bài Nối Vòng Tay Lớn trên đài phát thanh Sài gòn, đón mừng những người CS vừa cưỡng chiếm miền Nam, tôi không còn hứng thú để hát nhạc của ông, dù có nhiều bản tình ca tôi từng một thời ưa thích, bỗng dưng chiều nay buột miệng hát lên mấy câu trong bài hát khá xa xưa mà tôi đã quên mất vài lời, khi nghe Bác sĩ Ngô Thế Khanh và cô bạn Phạm Thu Đào báo tin Phạm Vương Thục vừa mới ra đi. Dù đã biết trước điều đau đớn này rồi sẽ xảy ra, tôi vẫn bàng hoàng, có cảm giác cả bầu trời trước mặt và ngay chính trong lòng mình như chỉ còn là một khoảng trống bao la. Tôi hình dung người lead gun phương phi của Phi Đoàn Song Chùy 213 hào hùng ngày nào trên bầu trời khói lửa Vùng I, Hạ Lào, giờ thực sự đang lặng lẽ bay về cuối trời thênh thang. Tôi mơ hồ như văng vẳng đâu đây dư âm của cánh quạt trực thăng vần vũ và tiếng đạn minigun, rocket từng tràng phóng xuống, thét gào, cuồng nộ. Rồi tất cả bỗng lặng yên, tĩnh mịch.

Đọc tiếp…

Share and Enjoy:
  • Digg
  • Sphinn
  • del.icio.us
  • Facebook
  • Mixx
  • Google
  • StumbleUpon
  • blogmarks
  • Technorati
  • De.lirio.us
  • Gwar
  • Reddit
  • YahooMyWeb

phố ảo

Phạm Tín An Ninh

Tôi bước vào Phố Ảo với lời giới thiệu của một người dẫn đường khả kính, nhà văn Tâm Thanh:

Con chim sắp chết hót tiếng bi thương,
Con người sắp chết nói lời tâm huyết”

Cụ Phan Bội Châu viết lời trên trong Lưu Cầu Huyết Lệ Tân Thư năm 1903. Ba mươi bảy năm sau (1940) Cụ mới qua đời tại Bến Ngự trong cảnh giam lỏng.

Người con gái Sông Hương vừa bị định mệnh lên án treo. Cô có được ân xá và diên trì sự sống một thời gian dài như Cụ Phan không? Trong viễn ảnh Phật giáo mà cô là một tín đồ, tiếng gọi về ngay hay lệnh hoãn không nhất thiết là tốt hay xấu, chỉ là duyên nghiệp trong luật tử sinh chung. Dưới nhãn quan đạo Chúa mà phu quân là tín đồ, việc ở hay đi nào có gì quan trọng, nếu người ta sống xứng đáng và yêu thương tới giờ phút cuối cùng. Tôi tin cô đã quan niệm và đang sống như chí hướng của cả hai tôn giáo ấy. Sư tin tưởng của tôi đã được xác chứng khi đọc thơ của cô.

Cô muốn đã đến lúc người thân yêu và bằng hữu nghe tiếng lòng mình - qua thơ. Đó là lý do sự hiện diện của tập thơ muộn màng này.

. . .

Với những lời giới thiệu của người dẫn đường từng trải ấy, tôi đã bước vào Phố Ảo với thái độ cẩn trọng cùng một tâm hồn mang đầy cảm xúc. Lo sợ một tiếng động nhỏ, chỉ tiếng sột soạt của trang giấy mở ra, cũng có thể làm tan vỡ cái bóng thời gian mong manh và những hình ảnh lung linh, huyền hoặc. Tôi cũng đã mất đi ý định ban đầu, lúc vừa mở ra Phố Ảo - không phải tìm đọc chữ nghĩa, vần điệu trong thơ - mà đi tìm giá trị tình yêu, những thao thức và lòng trắc ẩn trước sự phù du, vô thường của kiếp nhân sinh - rất thực. Điều tưởng chừng đơn giản ấy, bao lần ngỡ mình đã ngộ ra, nhưng sao vẫn cứ trừu tượng mơ hồ, như những lần nghe kinh bằng tiếng Phạn, cảm nhận được cái âm điệu từ bi mà nào có thấu hiểu gì đâu trong những triết lý cao siêu của đạo Phật.

Đọc tiếp…

Share and Enjoy:
  • Digg
  • Sphinn
  • del.icio.us
  • Facebook
  • Mixx
  • Google
  • StumbleUpon
  • blogmarks
  • Technorati
  • De.lirio.us
  • Gwar
  • Reddit
  • YahooMyWeb

Rừng Khóc Giữa Mùa Xuân - tập truyện mới của Phạm Tín An Ninh

Đ ối với người lính chiến miền Nam Việt Nam, chỉ cần nhắc tên một ngọn núi, như Núi Tà Dôm hay Chu Pao, một con đường, như Quốc Lộ 14, Tỉnh Lộ 7 B;  một đồ vật như đôi giầy “xô”, cái nón sắt… là có thể tâm hồn òa vỡ. Vết thương lính có thể lành nhưng ký ức không bao giờ phai nhạt. Nó bừng lên nếu có ai bật nút. Phạm Tín An Ninh là một trong số người bật nút tài tình vào bậc nhất hiện nay. Năm ngàn (5. 000) cuốn Ở Cuối Hai Con Đường được bán sạch trong vòng một năm chứng tỏ sau 35 năm kết thúc cuộc chiến, truyện lính vẫn hấp dẫn, không riêng đối với lính mà với mọi người ít nhiều có liên hệ tới cuộc chiến. Nếu đặt Ở Cuối Hai Con Đường trong hoàn cảnh thị trường sách và tình hình đọc ở hải ngoại ngày nay, thì tập truyện này là một hiện tượng. Tôi là người ngán đến mang tai truyện chiến tranh (dù hay như Platoon hay buồn nôn như Deer hunter, thấy trên TV là tôi bật đài khác liền, bởi vì trong những phim ấy tôi chỉ thấy Mỹ và Việt Cộng, không có “Ta” trong đó, “Ta” đã bị loại ra khỏi vòng chiến ngay từ đầu; (nếu có “Ta” là đi đôi với những tướng tá lệ thuộc, ươn hèn). Nhưng tôi thích truyện PTAN. Bạn bè tôi cũng thích và chúng tôi hỏi nhau tại sao chán phim chiến tranh mà độc giả - cả lính lẫn dân -  lại thích truyện PTAN?  Câu trả lời đơn giản là vì PTAN không kể chuyện chiến tranh (thản hoặc chỉ lấy chiến tranh là m bối cảnh). Anh kể chuyện lính, tức là kể về những con người, trong đó “đánh đấm” chỉ là một khía cạnh. Và không phải người lính đơn độc, mà người lính gắn liền với người dân, với một mối tình. Người lính không chỉ có kiêu hùng mà còn lãng mạn, nhân bản, vị tha. Hình ảnh người lính của PTAN không phải đẹp với bộ quân phục mà đẹp trong suy nghĩ, trong tâm hồn.

Độc giả sẽ thấy những nét đặc thù đó nổi bật hơn nữa trong tập truyện Rừng Khóc Giữa Mùa Xuân.

Hai anh lính trẻ nhận được hai tấm khăn thêu và hai lá thư ‘sao y chánh bản’ tới tận trường tìm cô em gái hậu phương, để sau đó một người thành người tình bạc mệnh, một người thành nhà sư canh mộ cho bạn mình (Gói quà đầu năm). Anh lính Biệt Động Quân gùi đứa con trai bốn tuổi sau lưng, mở đường máu cho đồng đội, để cuối cùng bỏ xác, bỏ con trên rừng thẳm (Rừng khóc giữa mùa xuân). Cô gái cán bộ lâm trường người Hà Giang yêu anh lính tù cải tạo, giúp anh bản đồ, địa bàn và lương khô để vượt ngục; cuộc đào thoát thất bại, cô tưởng anh đã chết, sáu năm mới đi lấy chồng, nhưng anh vẫn còn sống và trở thành một vị thầy tu.. (Nghỉ hè ở Mallorca). Những anh lính trẻ hành quân tại Ngân Sơn không bao lâu, ngày lên đường, trên đoàn xe  GMC của tiểu đoàn, thấp thoáng những cô dâu mới trong bộ đồ lính trận (Người lính trinh sát). Sau cuộc chiến, dù là người bại trận, họ vẫn luôn dang hai tay ôm lấy cái tình huynh đệ, cố giữ hào khí, tư cách của ngày xưa ( Những cánh đại bàng sau cơn bão lửa). Nhiều năm khốn khổ trong lao tù, trở về với một gia đình tan nát, người lính vẫn chịu đưng bao dung, bao nhiêu nỗi oan khiên gởi theo hồn tiếng sáo (Tiếng Sáo).Về già, ngồi “điểm danh”, nhớ thương từng đồng đội cũ, tiếc nuối bao kinh nghiệm chiến trường giờ không biết còn truyền lại cho ai (Lá rụng không về cội)…
Đó là những hình ảnh tưởng chỉ có trong phim về chiến tranh Nam-Bắc Mỹ hoặc Chiến tranh và Hòa bình tại Nga. Nhưng đó là những hình ảnh con người trong chiến tranh Việt Nam. PTAN thu được những hình ảnh đó nhờ anh là lính chiến; anh kể lại chi tiết từng địa danh, năm tháng, không hẳn vì nhờ có trí nhớ tuyệt vời, mà chính vì anh không thể nào quên. Nhưng yếu tố quan trọng không kém khiến cho truyện PTAN có giá trị đặc biệt, là anh có một triết lý riêng để lý giải tất cả mọi việc trên đời - thái độ trước định mệnh.

Cuộc đời trong thế giới PTAN đầy oan trái, và đầy tính định mệnh. Nhưng các nhân vật không thúc thủ trước định mệnh. PTAN tin”xưa nay nhân định thắng thiên cũng nhiều”. Truyện PTAN thường cực kỳ éo le, chằng chịt khúc mắc, dàn dựng khác với phép dựng kịch (dramaturgy) của truyện ngắn cổ điển (vả lại, có bao nhiêu nhà văn Việt Nam viết truyện ngắn theo sách vở?). PTAN dàn dựng truyện như thế này:

tình cờ - hạnh ngộ - chia ly - đi tìm - thấy - xử trí theo tình nghĩa.

Các truyện trong Rừng Khóc Giữa Mùa Xuân, vì thế, phần nhiều là bi kịch, nhưng luôn luôn có hậu, khuynh hướng mà đa số độc giả trông đợi. Nhờ thế, đọc truyện Phạm Tín An Ninh, dù chảy nước mắt nhưng ai cũng phải hài lòng

Tâm Thanh




Share and Enjoy:
  • Digg
  • Sphinn
  • del.icio.us
  • Facebook
  • Mixx
  • Google
  • StumbleUpon
  • blogmarks
  • Technorati
  • De.lirio.us
  • Gwar
  • Reddit
  • YahooMyWeb

vài ý nghĩ về tác phẩm Rừng Khóc Giữa Mùa Xuân của Phạm Tín An Ninh

* HUY PHƯƠNG

Chiến tranh đã chấm dứt hơn ba mươi lăm năm nay, nhưng nỗi buồn của chiến tranh, không những còn để lại những nghĩa trang và những nấm mồ thất lạc, những dấu vết trên da thịt con người mà vẫn ám ảnh trong lòng chúng ta, dù đã sống trong cuộc chiến để chịu nỗi oan khiên hay ở bên lề cuộc chiến.

Phạm Tín An Ninh là người đi tìm những nhân vật sau cuộc chiến, hay do một sự tình cờ, qua sự sắp xếp của định mệnh, đã gặp lại được những con người sau ba mươi lăm năm khi tiếng súng đã ngưng. Từ đó, tác giả mở ra cho chúng ta đi vào những câu chuyện có thật, lúc nào cũng đầy tình người để lại cho chúng ta những nỗi xúc động, bùi ngùi. Trong “Ở Cuối Hai Con Đường” xuất bản cách đây ba năm, tác giả đã kể lại câu chuyện một cán binh CSBV được cảm hóa bởi tính khoan dung nhân bản của những người lính VNCH, khi anh ta bị thương và bị bắt làm tù binh tại chiến trường Tây Nguyên năm 1972, nhận ra sự dối trá và tàn độc của chủ nghĩa mà anh ta đã bắt buộc phải phục vụ, trở về với bản tính lương thiện của con người. Động lòng trắc ẩn, thầm cảm phục tính nhân bản, độ lượng của những người lính VNCH, nên anh ta có dịp đền ơn đáp nghĩa sau 1975, khi trở thành quản giáo của một trại tù cải tạo mà tù nhân chính là những người lính VNCH nhân ái năm xưa, để rồi sau đó chính anh ta bị kỷ luật, sa thải khỏi quân đội và cả gia đình phải sống trong khốn khó. Cuối cùng anh ta và con cái lại được những người tù xưa giúp đỡ, khi họ đã vượt biên sống ở nước ngoài. Một câu chuyện thấm đẫm tình người.

“Rừng Khóc Giữa Mùa Xuân” hôm nay là câu chuyện vợ một người lính BĐQ trở lại chiến trường xưa, đi tìm lại dấu vết của chồng và đứa con trai mất tích trên đường chạy loạn 7B từ Phú Bổn về duyên hải, đã gặp người thanh niên Ksor Tlang bán gà giữa chợ. Nhờ một vết sẹo đặc biệt trên tay người thanh niên miền Thượng này, bà đã nhận ra đứa con trai thất lạc của mình và nhờ đó, tìm lại được ngôi mộ của chồng. Nhưng kết cuộc vẫn là chia lìa, xót xa  vì nghịch cảnh và những trớ trêu của chiến tranh.

Trong “Gói Quà Đầu Năm” người sống là vị sư trụ trì và người chết nằm sau vườn chùa là đôi bạn trận mạc ngày xưa, và thiếu phụ viếng chùa hôm nay là cô nữ sinh thêu khăn tay gửi cho chiến sĩ ngày trước. Người chết, người sống cùng ngậm ngùi trước những ngày tháng cũ và một mối tình thời chiến không trọn vẹn.

Trong “Tiếng Sáo”, về California gặp lại bạn bè xưa, tác giả tình cờ gặp Hồ Ngọc, người thổi sáo trên sân khấu trong buổi diễn hôm nay lại là một người bạn cũ, nhân vật chính của một cuộc tình ngang trái. Ngay cả ở một nơi xa xôi, trong chuyện “Nghỉ Hè Ở Mallorca”, Tây Ban Nha, cũng xuất hiện Hà Giang, một cán bộ lâm trường trong thời tác giả bị tù tập trung ở Bắc Việt, và trang hồi ức cũng được mở ra với mối tình của một bạn tù “cải tạo” và cô cán bộ này. Kết cuộc cũng chỉ là những đổ vỡ, kẻ mất người còn.

“Những Đám Mây Trên Núi Phổ Đà” lại gần như một tự truyện của tác giả, kể lại đoạn đời ấu thơ từ lúc mất mẹ, lớn lên vào trận mạc và kết thúc bằng nỗi u hoài về những người đã mất, gói ghém cả một đoạn đời hơn 60 năm vào trong bối cảnh của cuộc chiến, trong đó, cha mẹ, bạn bè, chiến hữu đều đã trở thành những cánh chim xa “mất hút ở cuối chân trời.”

Người đọc Phạm Tín An Ninh thường cho rằng, truyện của ông có quá nhiều những cuộc gặp gỡ của  định mệnh, tình cờ. Ông đưa một nhân vật ra dưới ánh đèn sân khấu, để nhân vật tự kể chuyện đời mình, hay qua đó, tác giả dẫn chuyện, đưa chúng ta trở lại câu chuyện của hai, ba mươi năm về trước. Tôi không nghĩ rằng những nhân vật của Phạm Tín An Ninh là những nhân vật hư cấu, không có thật như trong phần lớn tác phẩm của các nhà văn khác. Qua những vùng đất quê hương, nơi đơn vị anh đã từng chiến đấu, qua những địa danh người tù binh miền Nam đã từng bị giam giữ, với những con người thật, còn sống hay đã chết, những thảm cảnh hay bi kịch trong tác phẩm của Phạm Tín An Ninh đều gần gũi với chúng ta, những người vừa qua khỏi cuộc chiến tranh, vừa là nhân chứng, vừa là nạn nhân đã chịu nhiều khổ đau mất mát. Cũng như những truyện ngắn khác của Phạm Tín An Ninh, tập truyện “Rừng Khóc Giữa Mùa Xuân”, đầy những đổi đời xót xa, qua ba mươi năm chiến tranh, nhưng luôn luôn đậm thắm tình người.

Phạm Tín An Ninh, thường không nhận mình là một nhà văn. Theo tôi, ông là một người lính trận, sau chiến tranh, tù đày, trở về đứng trên đống hoang tàn đổ nát của quê hương, đi tìm lại những hình bóng của một thời, đó là những người thân yêu đã khuất, những bạn bè đã nằm xuống cùng với những kỷ niệm đã mù xa.

Cali đầu năm 2011

Huy Phương

Share and Enjoy:
  • Digg
  • Sphinn
  • del.icio.us
  • Facebook
  • Mixx
  • Google
  • StumbleUpon
  • blogmarks
  • Technorati
  • De.lirio.us
  • Gwar
  • Reddit
  • YahooMyWeb

nguồn cội xót xa


Đêm sẻ chia cùng những xót xa
vết nhăn trên trán tuổi đang già

cơn đau nhắc nhở rằng ta sẽ
có ngày lạc nẻo giữa bao la

Cung Vĩnh Viễn

Tôi quen Long từ lúc còn trong quân trường. Hai thằng có nhiều thứ khác nhau. Cái tên Nguyễn Vĩnh Long của nó cũng đủ làm cho tôi cảm thấy cách xa nó đến cả… vài trăm cây số. Nó cao lêu ngêu, tôi thuộc loại chỉ đủ thước tấc đi lính. Mỗi lần xếp hàng diễn hành hát bài Đường Trường Xa, nó cầm cờ đi hàng đầu, còn tôi ách ê hàng áp chót. Tôi ăn nói vụng về nên thường thầm lặng còn nó thì giỏi lý sự nên nói hơi nhiều. Cái giọng nam bộ của nó thường mở đầu bằng mấy tiếng chửi thề, nên tôi ngại nói chuyện với nó. Dường như hai thằng chỉ có một điều giống nhau duy nhất : Con nhà nghèo, gia đình lại ở quá xa, cho nên những ngày cuối tuần, hai thằng đều mồ côi tại chỗ. Không ngờ chính cái điều giống nhau duy nhất ấy mà sau này hai thằng trở thành bạn chí thân
Quả thật là nó có nhiều thứ khác tôi, nói cho đúng là có nhiều cái hơn tôi. Ra trường nó đỗ cao, được chọn về quân trường Đồng Đế, ngay tại quê tôi, làm huấn luyện viên, còn tôi thuộc loại “lè phè” nên phải ra làm trung đội trưởng ở một sư đoàn tận trên cao nguyên xa tít mịt mùng. Đọc tiếp…

Share and Enjoy:
  • Digg
  • Sphinn
  • del.icio.us
  • Facebook
  • Mixx
  • Google
  • StumbleUpon
  • blogmarks
  • Technorati
  • De.lirio.us
  • Gwar
  • Reddit
  • YahooMyWeb

nghỉ hè ở Mallorca

Mallorca, một hòn đảo du lịch nổi tiếng của Tây Ban Nha, nằm trong quần đảo Balearic. Trước khi đến đây, vì nghĩ là đảo, nên tưởng chỉ có rừng núi và biển cùng một vài làng mạc hay khu phố nhỏ, nhưng tôi rất ngạc nhiên khi phi cơ đáp xuống phi trường Palma rộng lớn, kiến trúc tân kỳ, sang trọng còn hơn nhiều phi trường quốc tế khác mà tôi đã từng đi qua. Palma là thủ phủ tráng lệ của Mallorca, nằm trên một dãy đồi cao nhìn xuống biển xanh. Đặc biệt khu nhà thờ Cathedral nằm bên cạnh giáo đường Mussulman, gồm những kiến trúc độc đáo, nổi tiếng theo kiểu Mediterranean Gothic từ thế kỷ thứ 13.

Chiếc xe bus của công ty du lịch đưa chúng tôi đi qua vài thành phố cảng, sang trọng và sầm uất, nằm dọc theo bờ biển, để đến Alcudia, khu nghỉ mát nằm phía đông bắc Palma chừng ba giờ xe. Chúng tôi chọn nơi này, vì bờ biển đẹp, một cái vịnh nhỏ, nằm khuất sau dãy núi Victoria, nên không có sóng và khá an toàn cho trẻ em. Những em bé năm, sáu tuổi có thể lội ra cách bờ 50-60 mét. Đọc tiếp…

Share and Enjoy:
  • Digg
  • Sphinn
  • del.icio.us
  • Facebook
  • Mixx
  • Google
  • StumbleUpon
  • blogmarks
  • Technorati
  • De.lirio.us
  • Gwar
  • Reddit
  • YahooMyWeb

đứa cháu nội

(thương mến tặng Vi-Na)

Khi sắp sinh đứa con đầu lòng, và được bác sĩ cho biết là con gái, vợ chồng cậu con trai lớn dành cho chúng tôi cái vinh dự: đặt tên cho đứa cháu nội đầu tiên.

Đã hơn mười năm sống (tạm) trên xứ Bắc Âu, một tiểu vương quốc nhưng có nền dân chủ vào bậc nhất hoàn cầu nên chúng tôi cũng đua đòi tập tành chơi trò dân chủ: triệu tập tất cả nhà lại để làm một cuộc “trưng cầu dân ý”. Thế là một đại hội tiểu Diên Hồng được triệu tập, trong không khí “hồ hởi phấn khởi” của ông bà nội và các cô, chú tương lai. Vợ chồng cậu con trai lớn, chuẩn bị làm bố mẹ, được ngồi dự thính. Để thực thi dân chủ, tôi chỉ định cô con gái lớn điều khiển buổi họp. Mỗi người chỉ đề nghị một hoặc hai cái tên, phân tích ý nghĩa và cuối cùng biểu quyết chọn cái tên nào có đa số phiếu. Bà cô chủ tọa cũng muốn “tiếp nối truyền thống dân chủ”, chỉ định cô út phát biểu ý kiến trước, rồi lần lượt từ nhỏ đến lớn. Ông nội bị xếp vào vị trí cuối cùng, sau bà nội. Đọc tiếp…

Share and Enjoy:
  • Digg
  • Sphinn
  • del.icio.us
  • Facebook
  • Mixx
  • Google
  • StumbleUpon
  • blogmarks
  • Technorati
  • De.lirio.us
  • Gwar
  • Reddit
  • YahooMyWeb

những cánh én giữa mùa đông

Tôi gặp anh trong buổi tiệc họp mặt mừng xuân của Hội Biệt Động Quân Nam Cali. Khi nghe  giới thiệu, anh đến tìm tôi. Anh cầm tay hỏi lại tên tôi rồi nức nở với hai hàng nước mắt. Tôi ngạc nhiên, đứng dậy, im lặng xúc động nhìn anh khóc. Anh mặc bộ đồ bay màu đen, cao lớn, bô trai. Hàm râu mép vừa tăng vẻ cương nghị oai phong vừa đượm nét hào hoa lẫn một chút phong trần của những người đã từng một thời đi mấy về gió. Tôi vội vã cố lục lọi trong ký ức, nhưng không thể nhớ anh là ai, và đã từng gặp nhau chưa. Có thể là ngày xưa chúng tôi đã cùng tham dự một cuộc hành quân phối họp nào đó. Lúc ấy tôi là lính bộ binh, tham gia nhiều cuộc hành quân trực thăng vận, hoặc được L-19 bao vùng, Hỏa Long soi sáng hay được cận yểm bởi các oanh tạc cơ, mà chúng tôi xem như những chàng dũng sĩ, cứu tinh trong giờ phút lâm nguy. Tôi có dịp quen biết một số phi công, nhiều nhất là ở các Phi Đoàn trực thăng, nhưng không nhận ra chàng pilot vẫn còn đầy phong độ, đang đứng trước mặt mình.

Khi bớt xúc động, anh đưa tay lau nước mắt và tự giới thiệu:

-  Xin lỗi anh, gặp anh tôi xúc động quá, vì nghĩ tới anh tôi. Tôi là em của anh Phạm văn Thặng.

Bây giờ tôi mới hiểu ra. Đúng là tôi chưa gặp anh bao giờ. Sở dĩ anh biết tôi, vì mới đây trong một ký sự về chiến trường xưa, tôi có nhắc lại những trận đánh tại Kontum, và trong đó có kể lại cái chết can trường của người phi công anh hùng Phạm văn Thặng, khi anh đang bay một phi vụ yểm trợ cho chính đơn vị của tôi. Đọc tiếp…

Share and Enjoy:
  • Digg
  • Sphinn
  • del.icio.us
  • Facebook
  • Mixx
  • Google
  • StumbleUpon
  • blogmarks
  • Technorati
  • De.lirio.us
  • Gwar
  • Reddit
  • YahooMyWeb

những đám mây trên đỉnh núi Phổ-Đà

Dường như ở cái tuổi ấu thơ, tôi biết buồn hơi sớm. Mẹ qua đời khi tôi vừa mới lên ba, cha tôi lại phải đi dạy học xa, cả tháng chỉ về một lần, nên tôi lớn lên ở nhà ông bà nội. Được cô Út chăm sóc và ông bà nội cưng chiều hết mực, nên tôi không biết mình mồ côi mẹ. Đến năm, sáu tuổi, khi được đi học và chơi chung với bọn trẻ trong họ, nghe chúng nó gọi mẹ, tôi mới nhận ra là mình không có mẹ. Nhưng tôi không nhớ bà, bởi trong ký ức non nớt của tôi hoàn toàn không có bóng dáng và nhất là khuôn mặt của bà.

Ba tôi là con trưởng nam của ông bà nội. Lúc đi học, ông là một học sinh xuất sắc của một trường Pháp Việt, được tuyển chọn để ra Huế thi. Thời ấy, từ Nha Trang ra Huế, cha tôi phải đi bằng thuyền (ghe bầu), lênh đênh trên biển gần một tháng trời mới đến kinh thành Huế. Ông đỗ cao trong kỳ thi ấy. Trở về với nhiều phần thưởng. Ông được nhận vào dạy học, rồi làm đám cưới với mẹ tôi, người bạn học dưới ông hai lớp. Ông bà lấy nhau chưa tròn một năm thì bà nội tôi qua đời. Ba năm sau, ông nội tôi tục huyền, và người vợ mới của ông không ai khác hơn là em gái của bà nội, tức là dì ruột của cha tôi. Dù là mẹ ghẻ con chồng, bà cũng không nở đối xử tệ với thằng cháu ruột của mình, nhưng bà lại quay sang khắt khe với con dâu. Bà hành hạ mẹ tôi hơi nhiều, nhất là những lúc cha tôi vắng nhà. Để tránh tình trạng khó xử này, cha tôi xin ông nội được ra sống riêng. Ông nội cho cha mẹ tôi khu vườn để xây một căn nhà nhỏ. Khu vườn cách nhà ông bà nội một cánh đồng, trồng toàn những cây dừa, và nằm lẻ loi ngay giữa ranh giới ba cái làng quê, phân biệt bằng những hàng tre cao chót vót, che kín cả mặt trời. Dù vậy, mẹ tôi vẫn thường xuyên về thăm ông bà nội, săn sóc thuốc men khi ông bà đau ốm. Chẳng hiểu có phải vì làm dâu vất vả quá, mà mẹ tôi không muốn có con sớm. Mãi đến chín năm sau kể từ ngày làm đám cưới, mẹ tôi mới sinh ra tôi. Giữa một đêm khuya tối trời, cha tôi phải đốt liên tục đến ba cây đuốc để rước bà mụ về đở đẻ. Tôi ra đời trong ngồi nhà nằm chơ vơ giữa trời đất mênh mông ấy. Nghe nói cái nhau của tôi được chôn dưới gốc một cây mận đang mùa sum suê trái. Khi tôi vừa đầy ba tuổi thì mẹ tôi mất. Lúc ấy còn nhỏ quá nên tôi không biết và cũng chẳng còn nhớ được điều gì, ngay cả đến khuôn mặt của mẹ tôi. Trước lúc lâm chung, mẹ tôi muốn nắm tay và ôm hôn tôi, nhưng tôi không dám lại gần bà. Cha tôi và các dì dắt tay tôi vào giường mẹ, nhưng tôi cứ tìm mọi cách thoát ra và chạy trốn. Sau này, khi nghe kể lại, tôi buồn và ân hận lắm. Nhưng người ân hận nhiều nhất là bà nội (kế) của tôi. Khi thấy mẹ tôi ốm nặng, bà nội năn nỉ ông nội và ba tôi, để được đưa mẹ tôi về nhà nội và chính tay bà săn sóc, thuốc men. Ngày mẹ tôi mất, bà nội là người khóc nhiều nhất.  Nằm liệt cả mấy ngày sau khi chôn cất mẹ tôi. Khi mẹ tôi hấp hối, bà nắm tay mẹ tôi và hứa là sẽ nuôi nấng thương yêu hai anh em tôi. Mẹ tôi mất vào cuối tháng hai âm lịch. Trời nắng ráo. Vùng quê tôi đã qua vụ gặt, nên các cánh đồng đều khô đất, chỉ còn trơ gốc rạ. Đám tang mẹ tôi có đầy đủ các dì cậu bên ngoại. Nghe nói hai anh em tôi được mặc áo tang và trên đầu đội khăn tang hình chữ thập. Chúng tôi được mấy bà dì bồng theo sau quan tài của mẹ. Cứ một quảng, quan tài được đặt xuống để hai anh em tôi ngồi bên cạnh mẹ. Nghe kể là đám tang cảm động lắm, ai cũng khóc. Không chỉ khóc vì mẹ tôi ra đi không bao giờ về nữa mà thấy tội nghiệp hai đứa con thơ dại mồ côi.

Đọc tiếp…

Share and Enjoy:
  • Digg
  • Sphinn
  • del.icio.us
  • Facebook
  • Mixx
  • Google
  • StumbleUpon
  • blogmarks
  • Technorati
  • De.lirio.us
  • Gwar
  • Reddit
  • YahooMyWeb

bến bờ lưu lạc

Nữ Trung Tá Lục Quân Hoa Kỳ Gốc Việt Đầu Tiên - Phạm Phan Lang

P hạm Phan Lang sinh ra và cả một thời tuổi thơ sống cùng gia đình ở Nha Trang, theo học tại trường Nữ Trung Học và Võ Tánh. Nha Trang là thành phố biển thơ mộng, nơi có hai quân trường nổi tiếng: Trung Tâm Huấn Luyện Không Quân và Hải Quân, với những chàng trai hào hoa theo nghiệp kiếm cung, chọn cuộc đời bay bổng và hải hành. Trái tim của những chàng trai này đã một thời khốn khổ bởi bao nhiêu người đẹp của Nha Trang. Thời ấy, dường như những cặp tình nhân SVSQ Hải Quân và Nữ Sinh Nha Trang đã làm đẹp thêm cho thành phố biển. Trong số đó có đôi uyên ương Phạm văn Diên và Phan Thị Lang. Ngày ấy Lang là một cô bé khá xinh, tính tình hiền thục dễ thương, nên chỉ mới học Đệ lục là đã làm mê mệt chàng SVSQ họ Phạm. Cuộc tình kéo dài mãi đến khi Lang đậu xong tú tài 2 (năm1969) hai người mới làm đám cưới.

Anh Phạm văn Diên tốt nghiệp khóa 14 HQ (Đệ Nhị Kim Ngưu), trước ngày 30/4/75, mang cấp bậc Thiếu Tá và chỉ huy một chiến hạm PGM615(loại nhỏ)

Vào nửa đêm 29.4.75, Thiếu Tá Diên đưa chiến hạm rời khỏi Việt Nam, mang theo vợ, 3 đứa con nhỏ, 1, 3 và 5 tuổi, cùng cha mẹ già trên tuổi 70 và cậu em vợ, đang theo học đại học Luật Khoa  Sài Gòn. Ngoài gia đình, trên tàu còn có thủy thủ đoàn và khoảng hơn 150 người tị nạn khác. Chiến hạm của Thiếu Tá Diên vừa tham dự các cuộc hành quân tàn khốc cuối cùng tại Huế, Quảng Trị,Vùng I,  chưa kịp sửa chữa, bảo trì, nên lúc ra khơi bị hư hỏng và nước tràn vào, nhưng may mắn đã  được cứu bởi một tàu HQ khác mà Thiếu Tá Diên đã liên lạc được. Cũng trên chuyến đi này, gia đình bị mất hết tư trang, vàng bạc mang theo, nên lúc lên bờ chỉ còn hai bàn tay trắng. Đọc tiếp…

Share and Enjoy:
  • Digg
  • Sphinn
  • del.icio.us
  • Facebook
  • Mixx
  • Google
  • StumbleUpon
  • blogmarks
  • Technorati
  • De.lirio.us
  • Gwar
  • Reddit
  • YahooMyWeb

những cánh đại bàng sau cơn bão lửa

(Cảm nghĩ về cuộc họp mặt của Khóa 17 VBQGVN)

Mùa hè Cali có những cơn mưa bất chợt. Riêng buổi chiều nay dù ngoài trời chói chang nắng hạ nhưng trong lòng tôi mơ hồ như đang ngập những cơn mưa. Trước mặt tôi hôm nay là những cánh đại bàng đã phải trải qua một cơn bão lửa. Cái hình ảnh bi tráng ấy thực sự đã gây trong tôi bao điều cảm xúc.

Tôi được một người đàn anh, cũng là cấp chỉ huy của tôi ngày trước, mời đến tham dự Buổi Họp Mặt Khóa Võ Bị Đà Lạt của anh. Buổi họp măt được đặt tên: Bảy Mươi Tuổi Đời - Năm Mươi Tuổi Lính. Chỉ mới nghe qua cái tên thôi, cũng đủ cảm thấy ngậm ngùi. Bởi ở tuổi bảy mươi, liệu các anh còn được gặp lại nhau bao nhiêu lần nữa, để cùng nhắc nhớ một thời trẻ trung, trận mạc. Thời mà hầu hết các anh đã từng là những cánh chim đại bàng xoải cánh trên các trận chiến hào hùng, oanh liệt, nhưng cuối cùng đành phải chấp nhận một kết cuộc tức tưởi, oan khiên.

Cách đây năm mươi năm. Buổi sáng ngày 11.11.1960,  hai trăm mười người trai trẻ, xếp bút nghiên chọn đời binh nghiệp,  nhập học Khóa 17 VBQGVN. Vì nhu cầu chiến trường, họ đã ra trường sớm hơn dự định. Chỉ sau các niên trưởng Khóa 16 ba tháng. Ngày 30.3.1963, đúng một trăm tám mươi Tân Thiếu Úy tốt nghiệp, hành trang văn võ song toàn, như những cánh chim non rời tổ với đôi cánh sẵn sàng thử thách trước phong ba, theo những mũi tên từ chiếc cung của vị thủ khoa Vĩnh Nhi, bay đi khắp bốn phương trời lửa đạn.

Đọc tiếp…

Share and Enjoy:
  • Digg
  • Sphinn
  • del.icio.us
  • Facebook
  • Mixx
  • Google
  • StumbleUpon
  • blogmarks
  • Technorati
  • De.lirio.us
  • Gwar
  • Reddit
  • YahooMyWeb

rừng khóc giữa mùa xuân

 
icon for podpress  Audio Book: Rừng Khóc Giữa mùa Xuân: Play Now | Play in Popup

H ơn hai mươi năm nay, từ ngày đến định cư ở Na-Uy, một nước Bắc Âu nổi tiếng với những mùa đông dài băng giá, nhưng lại rất đẹp vào những ngày hè và lãng mạn vào thu, tôi vẫn giữ thói quen đi len lỏi trong rừng, không chỉ vào những ngày nghỉ cuối tuần mà bất cứ lúc nào thấy lòng mình trăn trở. Không phải tò mò vì những cuộc tình cháy bỏng trong”Rừng Na-Uy”, cuốn tiểu thuyết nổi tiếng mới đây của một ông nhà văn Nhật Bản, nhưng để được lắng nghe những tiếng khóc. Tiếng khóc của cây lá, của gỗ đá trong rừng. Tiếng khóc có mãnh lực quyến dụ tôi, thúc bách tôi, cho dù nó đã làm cho tôi đau đớn, khốn khổ cả một đời.

Tôi sinh ra ở Huế, nhưng lớn lên ở thành phố Nha Trang, sau khi cùng cả nhà theo cha tôi vào đây nhận nhiệm sở mới. Có lẽ ngày ấy tôi là một cô gái khá xinh. Ngay từ năm tôi học lớp đệ lục trường Nữ Trung Học, cũng đã có vài chàng học trò khờ khạo si tình, đạp xe theo tôi sau những buổi tan trường. Lên năm đệ tam, cũng có vài chàng SVSQ Hải Quân, Không Quân chờ trước cổng trường tán tỉnh. Nhưng như là số trời, trái tim tôi chỉ rung động trước một người. Anh  là bạn chí thân với ông anh cả của tôi, hai người học cùng lớp từ thời còn ở trường Võ Tánh. Tháng tư năm 68, chúng tôi làm đám cưới, kết thúc một cuộc tình đầu thật dễ thương, không có nhiều lãng mạn, cũng chẳng có điều gì trắc trở. Ông xã tôi là lính biệt động quân. Hậu cứ đóng ở Pleiku. Ngày về làm đám cưới, đôi giày saut của anh còn bám đầy đất đỏ hành quân. Đám cưới chúng tôi được tổ chức tại một nhà hàng nằm gần bờ biển, không xa tòa tỉnh, nơi vừa mới trải qua khói lửa Mậu Thân.

Sau đám cưới, cha mẹ chồng cho tôi theo anh lên Pleiku một tháng, rồi phải trở về sống ở nhà chồng, bởi anh đi hành quân liên miên, không an toàn khi tôi phải sống một mình. Chỉ những khi nào tiểu đoàn về hậu cứ dưỡng quân, anh đánh điện tín để tôi lên với anh.

Đọc tiếp…

Share and Enjoy:
  • Digg
  • Sphinn
  • del.icio.us
  • Facebook
  • Mixx
  • Google
  • StumbleUpon
  • blogmarks
  • Technorati
  • De.lirio.us
  • Gwar
  • Reddit
  • YahooMyWeb

lá rụng không về cội

Thứ bảy tuần rồi, ông Trương nhận được hai món quà, do ông bà sui vừa về thăm quê bên Việt Nam mang sang tặng. Hai món quà thực ra không đáng bao nhiêu tiền, nhiều lắm cũng chỉ bằng giá một tô phở bán ở Little Saigon, nhưng với ông nó lại là vô giá, đã làm ông xúc động, nghẹn ngào đến nỗi không thốt lên được hai tiếng cám ơn. Cả tuần nay, nhiều đêm ông trằn trọc mất ngủ, ban ngày ngồi thẫn thờ, hoặc chắp tay sau lưng lẩn thẩn một mình trong khuôn vườn nhỏ sau nhà, suy nghĩ mông lung.

Năm vừa rồi, con cháu đã tổ chức mừng Lễ Thượng Thọ cho ông, mặc dù ông thường cản ngăn điều ấy. Nhưng con cháu làm vậy là phải, vì gia đình ông trải qua bao đời sống trong gia phong lễ giáo, hơn nữa suốt một đời vào sinh ra tử mà ông sống được tới hôm nay cũng là lạ lắm. Con cháu không chỉ mừng ông mà còn phải cảm tạ Đất Trời.

Sinh ra ở vùng quê, một cái huyện nghèo, mà thơ mộng. Biển xanh nằm sát bên dãy trường sơn hùng vĩ, cực bắc tỉnh Khánh Hòa. Cuộc đời ông có nhiều may mắn bất ngờ. Vì sinh kế, cha mẹ ông phải vào Nam lập nghiệp. Ông được một người trí thức có lòng nhận làm dưỡng tử. Người này gốc Quảng Bình, tốt nghiệp kỹ sư công chánh từ École Centrale bên Pháp, vừa mới hồi hương và đang làm cho hãng thầu Descours &Cabaud đặc trách hai công trường xây cầu  NeakLuong và Norodom, cách thủ đô Nam Vang 6 - 10 cây số. Là “dưỡng tử” nhưng ông thường được xưng hô là “thầy trò″. Ông kỹ sư chưa lập gia đình. Để thuận tiện công việc làm, ông thuê một ngôi nhà đơn lập, nằm cạnh nhà của người bạn là một nhà giáo, và gởi gấm cậu dưỡng tử theo học. Thời đó Nam Vang không có một trường nào dành cho văn hóa Việt Nam, mà chỉ có trường Pháp và Miên. Ông kỹ sư sống ở Pháp hơn bốn mươi năm, thấm nhuần văn hóa Pháp, vì vậy “cậu bé” Trương tất nhiên chịu ảnh hưởng của người dưỡng phụ, nên học hành rất nhanh và sớm thi đỗ Diplôme.

Đọc tiếp…

Share and Enjoy:
  • Digg
  • Sphinn
  • del.icio.us
  • Facebook
  • Mixx
  • Google
  • StumbleUpon
  • blogmarks
  • Technorati
  • De.lirio.us
  • Gwar
  • Reddit
  • YahooMyWeb

vĩnh biệt một con đò

… những chuyến đò năm ấy đã sang sông
và khách bộ hành đã đi về những vùng đất khác
nhưng suốt đời con sẽ không làm sao quên được
có một thời Cô-Thầy đã nuôi lớn ước mơ con…
(ntb)

Đời một con người đã có biết bao lần cặp bến từ những con đò. Không phải những con đò đưa ta qua những dòng sông mà qua những dòng đời. Mà dòng đời thì thường chia trăm vạn nẻo và lại nghiệt ngã, không êm ả như những dòng sông, nên khi vừa mới xuống bến này ta lại vội vàng đi tìm bến khác, để rồi chẳng có mấy ai còn nghĩ tới con đò, người lái. Đến lúc tuổi xế chiều, khi cuộc đời chỉ còn đợi chờ một lần sang bến cuối, thì ta mới ân hận, tiếc nuối bao nhiêu điều, và nhận ra chính mình cũng từng là một kẻ vong ơn.

Và buồn thay, trong số những kẻ vong ơn đó lại có tôi, người vừa mới ngộ ra được cái điều đáng ân hận ấy.

Gia đình tôi định cư ở Bắc Âu, nhưng có ba cô con gái sang học bên Mỹ, rồi có việc làm nên ở lại Mỹ từ hơn mười lăm năm nay. Vợ chồng tôi cũng đã sang Mỹ nhiều lần thăm bạn, thăm con. Các cháu đều sống ở Cali. Vậy mà mãi đến mùa hè năm rồi tôi mới tìm đến thăm vợ chồng một vị Thầy cũ. Cả hai ông bà đều đã dạy tôi những năm đầu trung học và cũng là những ân nhân đã từng giúp đỡ, cưu mang tôi qua một đoạn đời khốn khó. Gia đình Thầy Cô ở thành phố Covina, gần nơi các con tôi đang ở.

Hôm đến thăm, tôi có hẹn với vợ chồng cô bạn trẻ Cao Liên Hương, đến từ thành phố nhỏ Calgary, tận bên Canada. Cô bạn này cũng là học trò cưng của Thầy Cô lúc trước, học sau tôi vài ba lớp, nhưng sống phải đạo hơn tôi nhiều, vì cô đã đến thăm Thầy Cô một vài lần trước đó. Còn riêng tôi thì đã đến quá muộn màng. Cô giáo nhân từ của chúng tôi không còn nữa. Cô đã qua đời từ hơn năm năm trước. Bây giờ chỉ còn lại mỗi một mình Thầy, tóc trắng phơ, hai bàn tay run rẩy, ngồi trên chiếc xe lăn, nhờ vợ chồng cô con gái đẩy ra phòng khách đón hai đứa học trò xưa, mà chắc chắn Thầy không còn nhớ là ai. Nhưng nghe nói có học trò đến thăm, Thầy vui mừng lắm, luôn nhìn chúng tôi với ánh mắt yêu thương trìu mến và nụ cười đôn hậu, ngồi nghe chúng tôi kể lại những kỷ niệm dưới mái trường xưa, và ca ngợi dáng dấp “tài tử Gary Cooper” của Thầy thời còn trai trẻ. Thầy còn ký tặng chúng tôi cuốn sách của Thầy “Pour écrire correctement Le Francais”. Cuốn sách gối đầu giường của đám học trò chúng tôi thời ấy. Nét bút có yếu đi, run run một chút, nhưng vẫn phảng phất cái dáng vừa nghiêm nghị vừa quý phái của Thầy ngày trước. Đưa tay cầm cuốn sách Thầy cho, tôi thấy lòng lâng lâng, xúc động, vui buồn lẫn lộn, nên nụ cười chưa kịp nở trọn thì nước mắt đã ràn rụa tự lúc nào. Vơ chồng cô con gái hiếu thảo của Thầy sợ Thầy mệt, nên xin phép chúng tôi đưa Thầy vào phòng để Thầy nằm nghỉ. Chúng tôi cùng ra thăm mộ Cô. Cô nằm cô đơn lặng lẽ trong một nghĩa trang rộng lớn yên tĩnh trên ngọn đồi Covina Hills, nhìn xa xa xuống ngôi nhà cũ. Tôi quỳ trước mộ Cô, nước mắt đầm đìa, khi thấy trên thảm cỏ xanh bằng phẳng chỉ có tấm mộ bia lạnh lùng khắc sâu tên Tung Linh Tran Nguyen.

Dù đã hơn 50 năm, qua bao nhiêu thăng trầm, biến đổi, tôi không bao giờ quên cái tên thật đẹp của Cô: Trần Thị Tùng Linh. Có lẽ sau khi sang Mỹ, cô lấy họ của Thầy, “Nhập gia tùy tục” mà cũng cho trọn vẹn thủy chung với một cuộc tình tuyệt đẹp mà Cô Thầy đã mang theo từ lúc mới quen nhau ở tận Hà Thành. Khi Thầy từ Huế còn Cô từ Vinh ra học.

Đọc tiếp…

Share and Enjoy:
  • Digg
  • Sphinn
  • del.icio.us
  • Facebook
  • Mixx
  • Google
  • StumbleUpon
  • blogmarks
  • Technorati
  • De.lirio.us
  • Gwar
  • Reddit
  • YahooMyWeb

Úc Châu - nơi mà cả đất trời và bạn bè ai nấy cũng dễ thương

C húng tôi đến Úc Châu và ở lại đó chỉ có ba tuần. Ba tuần với bộn bề bao nhiêu công việc và di chuyển khắp đó đây. Từ Sydney đến Melbourne  rồi  Adelaide và  Brisbane. Vậy mà ngày trở lại Bắc Âu, lòng nặng trĩu bao nhiêu hình ảnh thơ mộng và đầy ắp ân tình của bè bạn đồng môn, đồng hương.

Sau chuyến bay khá dài, mệt đừ người, chúng tôi đến phi trường Sydney lúc 9 giờ tối. Mặc dù được thông báo trước là có các bạn Nguyễn văn Thuần, Đặng Trung Chính và Trần văn Phước ra đón, tôi vẫn lo, vì không biết ba ông bạn đồng môn chưa bao giờ gặp mặt này có nhận ra mình không. Mấy tấm ảnh gởi sang trước để làm poster và slide show cho các Buổi Ra Mắt Sách, chụp lúc tôi còn trẻ và có chút oai phong trong bộ quân phục, chứ còn dung nhan của tôi bây giờ thì chắc chẳng khác nào.. trời đã sang đông. Nhưng khi vừa mới bước ra phòng đợi, nghe tiếng gọi tên mình, rồi tiếng chào, cười đùa của các bạn, lòng tôi hân hoan vô hạn. Thì ra trong số người đi đón còn có cả vợ chồng anh chị bạn thân của tôi ở Nauy lúc trước. Hai con chim thiên di này bay sang Úc trốn lạnh từ hơn 15 năm trước, rồi không bao giờ trở lại. Vợ chồng anh chị bạn này là người Biên Hòa, tuy cả hai cũng là giáo sư lúc trước nhưng không dính dáng gì tới Võ Tánh, Nữ Trung Học Nha Trang. Thì ra họ cũng đã quen nhau, và muốn dành cho chúng tôi một bất ngờ. Cái tình đồng hương của người Việt ở Úc Châu nó đậm đà như vậy đó.

Trời Úc Châu đang cuối xuân vào hạ. Lòng tôi cũng bâng khuâng cái cảm giác giao mùa.Trên con đường từ phi trường về nhà cặp vợ chồng người bạn đồng môn Huy&Hạnh, tôi đã được đi qua những con đường xinh xắn, đèn đường sáng rực, đủ để tôi nhìn thấy những cây phượng tím, phượng hồng đang rộ mùa hoa, nhắc nhớ một thời tuổi thơ cùng những mối tình học trò hoa mộng. Sydney có nhiều con đường đẹp, mà nhà văn Phan Lạc Phúc ở Úc gọi là những con đường tình. Và con đường tình nhất ở Sydney có lẽ là con đường dọc theo bờ sông George tới Bankstown đi từ hướng Cabramatta lên. Một bên là cây cao bóng mát, một bên là dòng sông xanh lượn lờ giữa hai bờ cây lá… Không biết có những đôi tình nhân VT&NTH nào thường nắm tay nhau đi trên con đường tình này, để nhớ lại cái thời mới quen, dìu nhau đi trên con đường Duy Tân, Bá Đa Lộc thơ mộng ngày nào.

(vừa từ phi trường về đến nhà Huy&Hạnh với Thuần, Chính và anh chị Đảm)

Vợ chồng tôi và cô con gái đến sau từ Mỹ, được vợ chồng bạn Nguyễn thắng Huy(VT69)&Đặng Mậu Thị Hạnh(NTH70), cũng là đôi tình nhân học trò hơn 40 năm trước, sau này cả hai đều là giáo sư trung học, và bây giờ chuẩn bị làm ông bà ngoại, nhận về cho tá túc. Chúng tôi được gia chủ hiếu khách dành nguyên tầng trên của ngôi nhà vừa lớn, vừa đẹp, nằm trong một khu yên tĩnh, mà chúng tôi cứ gọi đùa đây là tư dinh của ông bà đại sứ.

Đọc tiếp…

Share and Enjoy:
  • Digg
  • Sphinn
  • del.icio.us
  • Facebook
  • Mixx
  • Google
  • StumbleUpon
  • blogmarks
  • Technorati
  • De.lirio.us
  • Gwar
  • Reddit
  • YahooMyWeb

gói quà đầu năm

Tôi phải ngồi lại trên các bậc đá nghỉ chân đến ba lần trước khi bước vào cổng chùa. Ngôi chùa nhỏ nằm trên một triền núi, được phủ mát bởi những tàng cây. Ngôi nhà khách bằng gỗ, khá xinh xắn, nằm trong một khu vườn toàn hoa vạn thọ. Phía trước là một tượng Phật ngồi dươi gốc cây bồ đề, cành lá được cắt tỉa công phu. Chung quanh là cả một vùng núi trời tĩnh mịch.Tôi không phải là phật tử, nhưng ngồi nghe tiếng mõ và lời cầu kinh trong chùa vọng ra, cũng thấy lòng nhẹ hẳn đi trước bao nhiêu điều phiền não.

Hôm nay là mồng một tết, nhưng cảnh chùa khá im ắng, bởi chùa nằm khá xa khu dân chúng. Ngày hôm qua tôi có đến đây, nhưng thầy trụ trì đi vắng. Tôi đã để lại tấm danh thiếp của chồng tôi, viết vài dòng phía sau xin hẹn thầy hôm nay trở lại.

Chú tiểu còn rất trẻ, mang trà ra mời và xin tôi chờ thêm mươi phút nữa, vì thầy trụ trì đang khai kinh cho buổi lễ tân niên. Tôi nôn nao muốn sớm được nhìn mặt vị ân nhân của mình, nhưng cũng dặn lòng phải kiên nhẫn và cẩn trọng ý tứ trước một nhà sư.

Đọc tiếp…

Share and Enjoy:
  • Digg
  • Sphinn
  • del.icio.us
  • Facebook
  • Mixx
  • Google
  • StumbleUpon
  • blogmarks
  • Technorati
  • De.lirio.us
  • Gwar
  • Reddit
  • YahooMyWeb

ba dòng nước mắt

Tôi vô cùng ngạc nhiên khi nhận đuợc thư Bình, thằng bạn thân tình từ thời nối khố. Nó là đứa cuối cùng trong đám bọn tôi rời xa đất nước, vừa mới được sang định cư bên Mỹ theo diện HO 31. Lá thư chỉ vỏn vẹn mấy dòng:

” Tao đã đến Mỹ vừa đúng hai tuần. Ở đây ồn ào và ngột ngạt quá, tao muốn tìm một chỗ bình yên. Mày có cách nào giúp tao sang Bắc Âu với mày. Bởi tao nghe mày kể bên ấy dù có buồn và mùa đông khá lạnh, nhưng cuộc sống yên bình, thích hợp cho những người cần một nơi để chửa trị những vết thương khó lành được trong lòng.

Tao đang có nhiều vết thương, và cũng đang có nhiều điều rối ren không giải quyết được. Rồi có dịp tao sẽ tâm tình với mày sau. Bây giờ, bằng mọi cách mày giúp tao sang đó với mày. Càng sớm càng tốt..”

Hơn một tháng trước, Định đã báo cho tôi biết việc Bình sẽ sang Mỹ. Nó đã phụ giúp vợ Bình sẵn sàng tất cả mọi thứ để đón Bình. Định còn bảo khi nào Bình đến Mỹ rồi, nó sẽ báo để tôi sang thăm. Ba thằng gặp lại, tha hồ mà kể chuyện xưa. Vậy sao bây giờ vừa mới đoàn tụ vợ con, Bình lại muốn sang Bắc Âu với tôi, một nơi xa tít mịt mùng ?

Đọc tiếp…

Share and Enjoy:
  • Digg
  • Sphinn
  • del.icio.us
  • Facebook
  • Mixx
  • Google
  • StumbleUpon
  • blogmarks
  • Technorati
  • De.lirio.us
  • Gwar
  • Reddit
  • YahooMyWeb

Đà Lạt trời mưa

Tôi đến Đà Lạt đúng vào một ngày mưa. Mưa tầm tã. Ngồi trong nhà Thủy Tạ, nhìn những hạt mưa bay giăng kín rừng thông, phủ mờ khu phố Hoà Bình , và rơi lả tả xuống mặt hồ Xuân Hương, tôi mơ hồ như những giọt nước mắt của  người góa phụ đã từng một thời nhan sắc.

Người con gái vừa đến gặp tôi làm cho tôi mỉm cười với sự so sánh lạ lùng này. Bởi cô ta cũng xinh đẹp, và dù có nở nụ cười tỏ ra mừng rỡ khi chào tôi, vẫn không giấu được nét buồn trong đôi mắt. Một nỗi buồn có cái gì xót xa sâu lắng lắm.

Tôi đã đến thành phố này nhiều lần. Lần cuối cùng vào mùa Giáng Sinh năm 1970, khi đơn vị tôi may mắn được lệnh về đây phối họp hành quân giữ an ninh cho một khóa Võ Bị làm lễ ra trường. Bao nhiêu năm trong rừng núi tây nguyên gió lạnh mưa mùa, rồi xuống bờ biển Phan Thiết với những động cát trơ trọi nóng như lửa đốt, bất ngờ được về Đà lạt, cho dù chỉ sau một ngày ở thành phố, đơn vị tôi lại được đổ xuống những rừng thông xa tít, nhưng đám lính tráng bọn tôi vẫn có cái cảm giác như được đi nghỉ mát. Người ta nói đúng, Đà Lạt dễ thương như những cô gái với gò má trắng hồng và đôi môi mộng đỏ để ai một lần lên xứ Hoa Đào mà lòng không vấn vương. Đà lạt cũng là nơi có nhiều huyền thoại về những mối tình đẹp và buồn của các cô sinh viên với những chàng trai mang alpha đỏ theo nghiệp kiếm cung, mà tôi đã đọc được trong những bài thơ thật buồn của Lệ Khánh từng vang tiếng một thời..

Đọc tiếp…

Share and Enjoy:
  • Digg
  • Sphinn
  • del.icio.us
  • Facebook
  • Mixx
  • Google
  • StumbleUpon
  • blogmarks
  • Technorati
  • De.lirio.us
  • Gwar
  • Reddit
  • YahooMyWeb

một vài suy nghĩ về truyện ký của Phạm Tín An Ninh


Cách đây mấy tháng, tôi có đọc trên mạng nào đó; một bài ký ” Ở cuối hai con đường “của Phạm tín an Ninh (PTAN). Bài ký hay, cảm động.. Đọc xong thực sự tôi không tin là một sĩ quan VNCH, đã trải qua những năm tháng dài tù đầy, mà có bút pháp, lời văn nhẹ nhàng, đến như vậy. Thoạt đầu, tôi cứ ngỡ tác giả ghi lại lời kể của ai đó. Nhưng cách đây vài tuần, vô tình lang bang trên mạng, tôi có địa chỉ trang web của tác giả “Ở cuối hai con đường” -PTAN.- Đọc tiếp một vài truyện của anh, tôi mới thực sự tin anh là sĩ quan VNCH. Sở dĩ tôi gọi truyện của PTAN là truyện ký, bởi vì tác giả đã lấy những câu chuyện thực của đời mình, hoặc những câu chuyện ngoài đời mà tác giả bắt gặp, nhập tâm vào chính mình, rồi viết ra chăng?. (Tôi viết, hoặc là những câu chuyện ngoài đời-không phải là chuyện của PTAN- bởi vì tất cả các chuyện đều có hậu, tác giả đều vô tình gặp lại con, cháu của các nhân vật gắn với tác giả- Trường hợp này quả thật hiếm hoi, nhưng có thể PTAN trong cái rủi có cái may - âu cũng là nhân qủa vậy- Nếu đúng, em thành thật chúc mừng bác PTAN). Đọc tiếp…

Share and Enjoy:
  • Digg
  • Sphinn
  • del.icio.us
  • Facebook
  • Mixx
  • Google
  • StumbleUpon
  • blogmarks
  • Technorati
  • De.lirio.us
  • Gwar
  • Reddit
  • YahooMyWeb

RA MẮT SÁCH TẠI ÚC CHÂU VÀO THÁNG 11/2008 CỨU TRỢ THƯƠNG BINH & QUẢ PHỤ TỬ SĨ VNCH

 
icon for podpress  Nhà văn Phạm Tín An Ninh cám ơn Cộng đồng nguời Việt tại Úc và chào từ giã Úc châu : Play Now | Play in Popup

TƯỜNG TRÌNH BUỔI PHÁT HÀNH TÁC PHẨM “Ở CUỐI HAI CON ĐƯỜNG” CỦA PHẠM TÍN AN NINH TẠI SYDNEY VÀO NGÀY 02.11.2008

Phùng Nhân ( Báo Việt Luận)

Vào lúc 1:30pm ngày mùng 2 tháng 11 năm 2008. Tại Trung Tâm Sinh Hoạt Văn Hóa Cộng Đồng Người Việt NSW Sydney, nhóm bạn cựu học sinh trường Trung Học Võ Tánh Nha Trang và thân hữu Úc Châu, đã tổ chức một buổi phát hành tập truyện ngắn Ở Cuối Hai Con Đường của nhà văn Phạm Tín An Ninh để trợ giúp thương phế binh VNCH tại quê nhà. Đây là một buổi phát hành sách đã qui tụ được nhiều thành phần trẻ, thành phần trí thức, cựu quân nhân và các đoàn thể tổ chức chánh trị. Mà gần như trong mấy chục năm qua, chưa có cuộc sinh hoạt văn hóa phát hành sách nào ở Sydney mà có được sức thu hút đông đảo như lần nầy. Có thể nói đây là một sự thành công, đã vượt ra ngoài dự định của mọi người, nên ban tổ chức phải sắp đặt thêm ghế ngồi mà không đủ. Cuối cùng phải đứng thêm một vòng ngoài thật là đông, chính điều đó đã thổi lên một luồng sinh khí cho nền văn hóa lưu vong ở đây, mà từ lâu rồi sinh hoạt loại nầy đã bị lảng quên trong thầm lặng.

Đọc tiếp…

Share and Enjoy:
  • Digg
  • Sphinn
  • del.icio.us
  • Facebook
  • Mixx
  • Google
  • StumbleUpon
  • blogmarks
  • Technorati
  • De.lirio.us
  • Gwar
  • Reddit
  • YahooMyWeb

Đài Radio SBS Úc Châu phỏng vấn nhà văn Phạm Tín An Ninh - 28.10.2008

 
icon for podpress  Quốc Việt đài Radio SBS Việt ngử phỏng vấn Nhà Văn Phạm Tín An Ninh: Play Now | Play in Popup

Xin bấm vào PLAY NOW để nghe cuộc phỏng vấn
Úc Châu: Ra mắt tác phẩm “Ở cuối hai con đường” của Phạm Tín An Ninh từ Na Uy

Tài liệu từ Radio SBS www.sbs.com.au

Share and Enjoy:
  • Digg
  • Sphinn
  • del.icio.us
  • Facebook
  • Mixx
  • Google
  • StumbleUpon
  • blogmarks
  • Technorati
  • De.lirio.us
  • Gwar
  • Reddit
  • YahooMyWeb

trên chiến trường xưa

 
icon for podpress  Audio Book: Trên Chiến Trường Xưa: Play Now | Play in Popup

Hơn ba mươi năm sau, cùng với bốn anh em trong đơn vị xưa, chúng tôi trở lại Kontum tìm thăm nơi an nghỉ của những đồng đội cũ. Trong những năm 72 và 73, đơn vị chúng tôi đã có hơn hai trăm anh em vĩnh viễn nằm lại nơi này để giữ vững miền địa đầu, cửa ngõ quan trọng nhất vào Tây Nguyên, nơi có bản doanh Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn nằm không xa phía dưới - thành phố Pleiku.Dừng chân dưới chân núi ChuPao, nhớ tới những trận đánh khó khăn ác liệt với những toán địch quân bị xích chân trong những hầm núi đá, cố bám trụ những cái “chốt”, nhằm cắt đứt QL 14, con đường huyết mạch nối liền Kontum với Pleiku, và hình dung tới từng khuôn mặt của những anh em đã không bao giờ còn trở lại, một số đã gởi xác thân lại cho rừng núi nơi này, tôi xót xa khi nghĩ là mình còn mắc nợ họ. Món nợ máu xương không bao giờ trả được.Ngày ấy chiến trường ác liệt, có nhiều người lính phải hy sinh ngay khi vừa mới bổ sung cho đơn vị, mà ban quân số chưa kịp nhận hồ sơ lý lịch. Đa số rất trẻ, độc thân, và gia đình ở tận những miền xa, nên mồ mả không có ai chăm sóc. Hơn ba mươi năm rồi, qua bao nhiêu thăng trầm biến đổi, có lẽ hầu hết các nghĩa trang trong thành phố đã bị giải tỏa từ lâu, và nếu có được cải táng ở một nơi nào đó, chắc trên mộ bia không còn ghi đơn vị cũ. Chúng tôi đến đây như để tìm lại chút kỷ niệm và mong được vơi đi chút nào lòng trắc ẩn, chứ chuyện tìm lại được mồ mả của anh em - hy vọng rất mong manh.

Đọc tiếp…

Share and Enjoy:
  • Digg
  • Sphinn
  • del.icio.us
  • Facebook
  • Mixx
  • Google
  • StumbleUpon
  • blogmarks
  • Technorati
  • De.lirio.us
  • Gwar
  • Reddit
  • YahooMyWeb

thư của người bạn tù

Đất Trời Bao La ngày 23 tháng 9 năm 2008

Anh Ninh thân mến,

Cuối cùng thì tôi cũng đã tìm thấy cái mộ bia anh khắc tên tôi đặt “ở cuối hai con đường”. Không biết cái hài cốt nằm im trong mộ huyệt đó có phải là tôi chăng ? hay của một ai đó cũng nằm úp mặt nhấp nhô trên trên các lớp sóng phế hưng của thời đại? Dù của ai đi chăng nữa tôi cũng rất lấy làm hạnh phúc để thấy rõ rằng : khi chết đi đã có sẵn cái mộ bia đề tên mình, LĐD,do anh đề tặng. Đó là cái mộ bia duy nhất của tôi còn lưu lại sau khi tôi từ giã cõi đời, nó sẽ tồn tại lâu - rất lâu - cùng tên tuổi và tác phẩm của anh. ” Bất tri tam bách ….”.

Về cuốn sách Ở Cuối Hai Con Đường, chữ nghĩa của anh trải dài trong 252 trang sách (từ trang 7 đến trang 258). Nếu đem chia đều cho 16 truyện ngắn trong sách, bình quân mỗi truyện lãnh 15,75 trang. Câu chuyện anh viết để gởi tặng tôi chiếm nhiều trang nhất. Hai mươi hai trang rưởi với 7.178 chữ. Bài có số trang hạng nhì là Trời Đất Bao La, chiếm hai chục trang rưởi, dưới 7.000 chữ. Tôi cứ nghĩ rằng anh viết bài này để tặng cụ bà Jacqueline Cuvéro nào đó hiện đã ngủ yên trên đường hoa dĩ vãng. Xin cám ơn đã rút một đoạn tơ dài hơn để tặng tôi. Xin cám ơn đã chiêu đãi thằng bạn tù cũ kỹ hơn người tình xưa. Tôi đọc sách anh viết mà cứ sợ nó hết. Thỉnh thoảng phải ngưng để gạt nước mắt mới tiếp tục được. Tôi không muốn cắm thêm một cành hoa dại vào cái bình hoa đẹp đã được cắm đầy ắp những loài hoa cao quý.

Cuối thư xin chúc anh và gia đình được vạn sự bình an và hạnh phúc.

Lê đ. D

TB. Anh đừng nghĩ đến chuyện trả lại chiếc nhẫn. Tình đã cho không lấy lại bao giờ.
Tay bị liệt, chữ viết khó đọc. Tha lỗi

Share and Enjoy:
  • Digg
  • Sphinn
  • del.icio.us
  • Facebook
  • Mixx
  • Google
  • StumbleUpon
  • blogmarks
  • Technorati
  • De.lirio.us
  • Gwar
  • Reddit
  • YahooMyWeb

Những Đàn Chim Thiên Di

flying birds

Cả hai tuần nay, mấy quan chức sở “bảo vệ súc vật” thành phố thường xuyên đến thăm gia đình tôi, để tìm hiểu lý do vì sao, trước mùa đông năm nay những đàn chim trane không còn trở về vùng này nữa. Họ đã cho người dọn dẹp lại khu bờ sông, chăm sóc cánh đồng cỏ và trồng thêm mấy hàng thông phía bên kia để đón những đàn chim, nhưng chờ mãi mà chẳng thấy bóng dáng một con trane nào trở lại.

Trane là một loài chim sống thành đàn, màu nâu đen, có dáng như con hạc ở quê nhà. Là một giống chim không chịu lạnh, nên hàng năm, cứ trời sắp sang đông là tụ tập từng đàn ở một nơi nào đó rồi chia nhau bay tìm những xứ nóng phương nam. Ở Bắc Âu có nhiều loài chim trốn lạnh, nhưng loại trane này nhiều nhất, có tổ chức khá qui củ, và khi bay đi chúng bay thành từng nhóm theo hình những mũi tên, có khoảng cách đều nhau, rất đẹp.

Định cư ở Nauy hơn ba năm. Lúc kinh tế gia đình và việc học hành của mấy đứa con tạm ổn định, cũng là lúc vợ chồng tôi bắt đầu có thời gian để hồi tưởng về quá khứ, và nhớ quê hương. Chúng tôi quyết định mua một ngôi nhà dưới thung lũng nhỏ, bên bờ sông Nitelva yên tĩnh, bên kia là cánh đồng cỏ mênh mông tiếp giáp với núi rừng. Cái khung cảnh có mang một chút hình dáng và màu sắc quê nhà giúp tâm hồn tôi yên ả hơn mỗi khi thấy lòng trăn trở, nhung nhớ một điều gì.

Đọc tiếp…

Share and Enjoy:
  • Digg
  • Sphinn
  • del.icio.us
  • Facebook
  • Mixx
  • Google
  • StumbleUpon
  • blogmarks
  • Technorati
  • De.lirio.us
  • Gwar
  • Reddit
  • YahooMyWeb

nợ đời một nửa, một nửa nợ ơn em

(Viết cho em và những người vợ lính trung hậu)

Thời còn đi học, lang thang từ Nha Trang đến Sài Gòn, dù con nhà nghèo, học tàm tạm, và nhan sắc dưới trung bình, tôi cũng đã mang tiếng đào hoa. Cho nên có muốn kéo dài thêm cái đời học trò để được mơ mộng đủ thứ chuyện dưới biển trên trời thiên hạ cũng đâu có cho. Rồi có phải thuộc dòng hào kiệt gì đâu, tôi cũng xếp bút nghiên theo việc kiếm cung. Nói kiếm cung cho nó vẻ văn chương và lãng mạn, chứ thực ra tôi vào lính, mà lại là thứ lính hạng bét thì làm gì có kiếm với cung. Có phải lính tàu bay tàu thủy gì đâu, mà là lính đi bộ. Lúc băng rừng lội suối, mặc bộ đồ trận hôi hám cả tuần không tắm, tôi ghét cay ghét đắng cái ông nào là tác giả cái câu ” Bộ Binh là nữ hoàng của chiến trường ” mà tôi đã đọc được ngay từ khi mới vào quân trường, đếm bước một hai để hát bài “đường trường xa”.

Đọc tiếp…

Share and Enjoy:
  • Digg
  • Sphinn
  • del.icio.us
  • Facebook
  • Mixx
  • Google
  • StumbleUpon
  • blogmarks
  • Technorati
  • De.lirio.us
  • Gwar
  • Reddit
  • YahooMyWeb

Thằng Bé Đánh Giày Người Nghĩa Lộ

 
icon for podpress  AUDIO BOOK: THẰNG BÉ ĐÁNH GIÀY NGƯỜI NGHĨA LỘ: Play Now | Play in Popup

Mấy ngày ngắn ngủi ở Sài Gòn, tôi thường đến ăn tối tại một quán ăn gần khách sạn tôi ở, đi bộ chừng năm phút, có tên Nhà Hàng Thanh Niên, nằm phía sau nhà thờ Đức Bà. Một nơi tương đối yên tĩnh, khu vườn lộ thiên nhỏ nhưng với những khóm trúc dễ thương, và nhất là được nghe lại những bản nhạc tình ca -kể cả tình lính- của miền Nam thuở trước.
Sài Gòn dường như không kịp thở vào những ngày cuối năm. Ngoài đường tấp nập xe cộ và trên vỉa hè cũng kín cả người. Tất cả đều hối hả ngược xuôi, làm như tất cả không còn đủ thời gian để kịp “đổi đời”. Tôi thấy mình lạc lõng trong cái không gian ấy. Tốt nhất là tìm một nơi vắng vẻ ngồi một mình để suy tư và hồi tưởng về Sài Gòn của một thời xưa cũ, mà bây giờ mơ hồ như chỉ còn trong cổ tích.
- Chào chú, cháu đánh giày cho chú nhé.

Đọc tiếp…

Share and Enjoy:
  • Digg
  • Sphinn
  • del.icio.us
  • Facebook
  • Mixx
  • Google
  • StumbleUpon
  • blogmarks
  • Technorati
  • De.lirio.us
  • Gwar
  • Reddit
  • YahooMyWeb

bình luận về truyện Ở Cuối Hai Con Đường

Share and Enjoy:
  • Digg
  • Sphinn
  • del.icio.us
  • Facebook
  • Mixx
  • Google
  • StumbleUpon
  • blogmarks
  • Technorati
  • De.lirio.us
  • Gwar
  • Reddit
  • YahooMyWeb

Ở Cuối Hai Con Đường

 
icon for podpress  Audio Book: Ở Cuối Hai Con Đường: Play Now | Play in Popup

Những năm “cải tạo” ở miền Bắc, tôi được chuyển đi khá nhiều trại. Từ Lào Cai, xuống Hoàng Liên Sơn, rồi Nghệ Tĩnh. Khi mới đến Hoàng Liên Sơn, tôi được đưa đến trại Hang Dơi, nằm sâu trong núi. Đây là một vùng sơn lâm chướng khí, nên chỉ mới gần hai năm mà tôi đã có hơn 20 người bạn tù nằm lại vĩnh viễn ở dưới sườn đồi.

Sau đó, tôi được chuyển về trại 6/ Nghĩa Lộ. Trại này nằm gần Ban chỉ huy Tổng Trại, và cách trại 5, nơi giam giữ gần 30 tướng lãnh miền Nam, chỉ một hàng rào và mấy cái ao nuôi cá trám cỏ. Ban ngày ra ngoài lao động, tôi vẫn gặp một vài ông thầy cũ, kể cho nhau nghe đủ thứ chuyện vui buồn.

Ngày nhập trại, sau khi “biên chế” xong, cán bộ giáo dục trại đưa 50 thằng chúng tôi vào một cái lán lợp bằng nứa, nền đất, ngồi chờ “đồng chí cán bộ quản giáo” đến tiếp nhận.

Vài phút sau, một sĩ quan mang quân hàm thượng úy đi vào lán. Điều trước tiên chúng tôi nhìn thấy là anh ta chỉ còn một cánh tay. Một nửa cánh tay kia chỉ là tay áo bằng kaki Nam Định, buông thỏng xuống và phất phơ qua lại theo nhịp đi của anh. Không khí trở nên ngột ngạt. Không nói ra, nhưng có lẽ trong đám tù chúng tôi ai cũng có cùng một suy nghĩ: - Đây mới đích thực là nợ máu đây, biết trả như thế nào cho đủ?

Đọc tiếp…

Share and Enjoy:
  • Digg
  • Sphinn
  • del.icio.us
  • Facebook
  • Mixx
  • Google
  • StumbleUpon
  • blogmarks
  • Technorati
  • De.lirio.us
  • Gwar
  • Reddit
  • YahooMyWeb

người bán sách trên bãi biển nha-trang

 
icon for podpress  Audio Book: Người Bán Sách Trên Bãi Biển Nha-Trang: Play Now | Play in Popup

Tôi trở về thăm quê hương sau hơn mười lăm năm, kể từ ngày vượt biển ra đi. Tôi quyết định điều này qua bao nhiêu đêm ưu tư trằn trọc. Tôi chẳng còn ai thân quen bên ấy để về thăm. Mẹ tôi mất hồi tôi mới lên ba. Cha tôi chết cuối năm 1976 trong trại tù cải tạo Đá Bàn, khi tôi đang ở một trại tù khác tận núi rừng Việt Bắc và mãi năm năm sau tôi mới nhận được tin buồn. Đứa em gái mà tôi thương quí nhất, mang hình ảnh của người mẹ mà tôi chỉ còn mơ hồ trong ký ức, cũng đã kết liễu cuộc đời ở cái tuổi tưởng chừng lúc nào cũng có cả một bầu trời xanh bao la trước mặt. Còn bạn bè tôi, thằng chết, đứa ra đi, gởi thân khắp bốn phương trời. Biết là lần trở về này, rồi cũng chẳng khác gì cái ngày cách đây mười sáu năm, từ một trại tù miền Bắc trở về, tôi bơ vơ lạc lõng trên chính nơi chôn nhau cắt rốn của mình. Tôi cũng không có ý định về đây để tìm lại những kỷ niệm ngày xưa. Những “hang động tuổi thơ” chắc cũng đã biến mất trước bao nhiêu dông tố năm nào bất ngờ ụp xuống. Bây giờ chỉ còn sót lại chút ít trong lòng những người tha phương lưu lạc. Bản thân tôi có quá nhiều đớn đau và mất mát ngay trên chính cái thành phố một thời xinh đẹp này. Tôi sợ phải nhìn lại cái quá khứ hãi hùng và tang thương đó. Tôi về chỉ để làm một điều, mà nếu không làm được, lòng tôi sẽ ray rứt khôn nguôi. Có lẽ đến khi chết tôi vẫn không làm sao nhắm mắt.

Đọc tiếp…

Share and Enjoy:
  • Digg
  • Sphinn
  • del.icio.us
  • Facebook
  • Mixx
  • Google
  • StumbleUpon
  • blogmarks
  • Technorati
  • De.lirio.us
  • Gwar
  • Reddit
  • YahooMyWeb

người lính Phạm Tín An Ninh

Phan Nhật Nam

Cho dù Ở Cuối Hai Con Đường là một văn phẩm có giá trị cao do nội dung và tinh thần chứa đựng trong ấy, chúng tôi xin được đề cập đến một điều cao quý, cảm động và hãnh diện hơn - Tình Thương mà Người Lính, Người Lính QL/VNCH hằng chiến đấu, bảo vệ, gìn giữ - Dẫu kinh qua vô vàn khổ đau của chính bản thân, gia đình, chiến hữu, bằng hữu.. Nỗi Đau lớn hơn sự chết, ghê gớm hơn cái chết mà toàn Dân Tộc phải gánh chịu trong nghiệp hận oan khiên tưởng như không hề có thật.. Những nội dung qua chữ nghĩa của Người Lính Phạm Tín An Ninh gây nên cảm giác không thể tiếp tục cuốn sách như khi vừa đọc tới chuyện thứ hai.. “Chuyện Sắt Son - Về người đàn bà tên gọi là Chị Ngà“, hoặc đến chuyện thứ ba, “Ở Cuối Hai Con Đường - Về người quản giáo cộng sản ở Trại Nghĩa Lộ, Yên Bái” thì bản thân thật sự rơi vào trạng thái kiệt sức với câu tự hỏi nói ra lời: Sao con người có thế tàn ác với nhau đến như thế? Sao con người có thế tàn nhẫn với đồng chí, ngay cả vợ con mình như thế? Tại sao và tại sao..?!

Và đến chuyện Thằng Bé Đánh Giày Quê Ở Nghĩa Lộ với cái chết oan khốc bi thương của bé Khiêm thì chúng tôi đã phải kêu lên lời tán thán: Thượng Đế ơi Ngài ở đâu khi con người bị bức hại và đày đọa bởi Sự Ác/Bởi Kẻ Ác?

Tuy nhiên, Phạm Tín An Ninh đã viết xuống với tràn đầy thương yêu qua mỗi giòng chữ.. Từ đâu anh có năng lực kỳ diệu cảm động nầy? Từ đâu anh viết ra những câu chuyện kinh hoàng, đáng sợ kia với văn phong bình lặng thuần hậu đến như thế? Anh đã là lính tác chiến thực thụ của Sư Đoàn 23 Bộ Binh nơi chiến trường Tây Nguyên trong giai đoạn chiến tranh ác liệt nhất trước 1975..

Phan Nhật Nam, (SBTN)

Share and Enjoy:
  • Digg
  • Sphinn
  • del.icio.us
  • Facebook
  • Mixx
  • Google
  • StumbleUpon
  • blogmarks
  • Technorati
  • De.lirio.us
  • Gwar
  • Reddit
  • YahooMyWeb

trời đất bao la

Định cư ở Nauy hơn ba năm, sau khi ổn định công việc làm ăn và việc học hành cho mấy đứa con, tôi tổ chức một chuyến Âu du bằng xe hơi. Chiếc xe Ford của tôi vừa cũ kỹ vừa nhỏ, không thể nào vượt qua một chặng đường trên dưới bảy ngàn cây số, và dĩ nhiên cũng không đủ chỗ cho một gia đình lớn nhỏ tám người. Lại nghe mấy người bạn tới trước “hù″, bảo là trên xa lộ Âu châu vào mùa hè, chạy một cái xe cũ có thể bị giữ lại giữa đường và nộp tiền phạt vì cái tội làm trở ngại giao thông. Tôi mướn một cái xe mới toanh mười hai chỗ ngồi, có máy lạnh và kính mát đàng hoàng. Tôi không muốn bất cứ điều gì làm mất cái hứng thú cho cuộc hành trình đầu tiên của chúng tôi trên những đất nước mà trước đây tôi đã từng một thời mơ ước nhưng chẳng bao giờ nghĩ là có một ngày được đi qua. Tôi và đứa con trai lớn vừa mới đủ tuổi lấy bằng lái xe thay nhau làm tài xế. Bà xã và cô con gái lớn chịu trách nhiệm xem bản đồ và theo dõi lộ trình. Đọc tiếp…

Share and Enjoy:
  • Digg
  • Sphinn
  • del.icio.us
  • Facebook
  • Mixx
  • Google
  • StumbleUpon
  • blogmarks
  • Technorati
  • De.lirio.us
  • Gwar
  • Reddit
  • YahooMyWeb

trang bạn hữu - thơ cung vĩnh viễn

đôi mắt

(cảm tác từ truyện Tiểu Thơ của PTAN)

Như con sóc nhỏ trong cành lá

em nhảy chuyền trên những ngọn vui

tung tăng mái tóc mười lăm tuổi

đôi mắt tròn xoe ngó cuộc đời.

Ta biết đời ta lăng lông lốc

như hòn đá tuột dốc kinh tâm

đâu phải lòng ta khô không khốc

nhưng đành dấu kín nỗi thương thầm.

Ta đi ở lính mười năm lẻ

đánh trận xong về phá phách chơi

ở giữa cuộc vui ta vẫn thấy

đôi mắt tròn xoe khúc khích cười.

Mười năm bỗng hóa thành công cốc

tang thương đến tận cỏ cây này

ta đi trả nợ cho bằng thích

dẫu rằng ta đã chẳng hề vay.

Mười năm. Toi mất mười năm nữa

ta về như mán trở về kinh

vườn cũ bỏ hoang nhà đổi chủ

mong gì thấy lại mắt ai xinh.

Thôi lại lăn thân chốn chợ trời

kiếm đường kiếm bạn để đi chui

giữa bao khuôn mặt người thương khó

trời ơi đôi mắt của em tôi.

Chết điếng lòng trong nỗi đoạn trường

châu chìm ngọc nát với tang thương

quay đi để dấu đôi hàng lệ

chẳng dám nhìn em giữa nhiễu nhương.

Đáng kiếp cho ta gã cố cùng

đã không giữ nổi mảnh quê hương

thì cho mất mát bao nhiêu nữa

chuyện cũng đành thôi sự cũng thường.

Thôi thì bỏ xứ mà đi vậy

đi để tìm ra nghĩa cuộc đời

hay là đi trốn niềm đau tủi

đi trốn đi tìm cũng thế thôi.

Mười năm đất khách trôi biền biệt

như kiếp voi già nhớ nghĩa trang

ta về nghe tiếng đời huyên náo

khúc hậu đình hoa tấu sỗ sàng.

Chân bước rời xa nẻo phố phường

mười phương lòng vẫn nhớ một phương

xa xôi có tiếng chuông chùa vọng

tới kẻ hành nhân để độ đường.

Ta đứng ngập ngừng nơi chánh điện

trong chùa đang có buổi cầu kinh

một hàng sư nữ đang ngồi niệm

bỗng một vị sư ngước mắt nhìn.

Ta sững người trong phút bất ngờ

ơi con sóc nhỏ thuở xa xưa

nghiệp duyên tiền kiếp nào đưa đẩy

khiến đã nương thân dưới mái chùa.

Lẳng lặng lùi thân chẳng nghĩ suy

đời chia trăm nẻo để phân ly

ngước nhìn muôn vạn vì sao sáng

văng vẳng lời Kinh Chú Đại Bi.

Hình như bỗng thấy lòng êm ả

hiểu ra là sắc cũng là không

cho dù đời có nhiều ma chiết

đôi mắt tròn xoe vẫn sáng trong.


Cung Vĩnh Viễn





Share and Enjoy:
  • Digg
  • Sphinn
  • del.icio.us
  • Facebook
  • Mixx
  • Google
  • StumbleUpon
  • blogmarks
  • Technorati
  • De.lirio.us
  • Gwar
  • Reddit
  • YahooMyWeb

tiểu thơ

 
icon for podpress  Tiểu Thơ: Play Now | Play in Popup

Rầm!

Tôi và hai thằng bạn vừa rà thắng xe đạp trước rạp Tân Tân để vào xem phim “Ba Chàng Ngự Lâm Pháo Thủ” thì bị một chiếc Vélo Solex húc từ đằng sau tới. Cả ba thằng ngã xuống đất. Riêng tôi còn bị cái xe của thằng bạn đè lên bụng đau muốn nín thở. Mới loi ngoi bò dậy, chưa kịp phủi bụi trên áo quần thì nghe tiếng quát tháo:

- Ê ! bộ ba “chàng ngự lâm pháo thủ” mù cả hà. Dừng ngựa mà chẳng coi chừng phía đàng sau ! Đáng đời!

Vừa ngượng vừa tức giận bởi tự dưng bị húc té nhào giữa thanh thiên bạch nhật và trước bao nhiêu nguời đẹp, chưa kịp nắm cổ áo cho một trận, thì bị thủ phạm tiếp tục tấn công phủ đầu. Đúng là cà chớn. Nhưng nhìn lên thì.. à..cả ba thằng khựng lại : đối phương là một cô gái, tuồi ô mai, tóc còn thắt bím, ngồi trên Vélo, vòng tay trước ngực, trề môi, rồi trợn đôi mắt to như hai cái đèn “ô tô”: Đọc tiếp…

Share and Enjoy:
  • Digg
  • Sphinn
  • del.icio.us
  • Facebook
  • Mixx
  • Google
  • StumbleUpon
  • blogmarks
  • Technorati
  • De.lirio.us
  • Gwar
  • Reddit
  • YahooMyWeb

đường xưa lối cũ

Đường xưa lối cũ ta về
Từng con sóng vỗ não nề xa xa

Tôi xin mượn tên một bài hát của cố nhạc sĩ Hoàng Thi Thơ làm tựa cho bài viết có lẽ không đâu vào đâu này, để cám ơn chị bạn Ninh-Hòa có cái họ vừa đẹp vừa buồn - Lương Lệ- đã hát tặng trong đêm đầu tiên chúng tôi vừa trở lại quê nhà, ở cái quán cà phê mang tên khá lạ; Hòn Kiến, nằm trong một khu vắng vẻ trên con đường Bạch Đằng quen thuộc của một thời tôi còn lang thang đi học ở Nha Trang.
Bài hát dù hay nhưng xưa cũ lắm, tôi đã nghe rất nhiều lần, đến gần như không còn cảm xúc. Nhưng hôm nay ngồi nghe chị hát mà lòng chợt ngậm ngùi. Bởi vì chính bây giờ đây, tôi đã trở về và đang đi trên những con đường xưa lối cũ ấy. Đọc tiếp…

Share and Enjoy:
  • Digg
  • Sphinn
  • del.icio.us
  • Facebook
  • Mixx
  • Google
  • StumbleUpon
  • blogmarks
  • Technorati
  • De.lirio.us
  • Gwar
  • Reddit
  • YahooMyWeb

Người Bạn Làng Tam Ích

(gởi Phạm văn Nếp)

Bạn về gõ cửa đêm thâu
Ta nghe âm vọng nỗi sầu xa xưa

Sau ba năm ngồi bên nhau ở trường Võ Tánh, chia tay, mỗi thằng đi mỗi ngã. Anh bạn của tôi thì vào trường luật, còn tôi thì vào trường…lính. Khi còn đi học, bạn chăm chỉ và giỏi hơn tôi nhiều. Hai đứa học trò nghèo, cùng ở quê lên tỉnh học, nên dễ dàng là bạn tâm giao. Con nhà nghèo nhưng tôi lại mê truyện François Sagan và thơ Xuân Diệu, biết yêu hơi sớm, nên thay vì theo bạn học thêm vài ba chữ, thì tôi lại đắm say ngụp lặn trong một cuộc tình kiểu Aimez-vous Brahm. Mà dường như tình yêu nó làm cho người ta đổi thay ghê gớm lắm.

Đọc tiếp…

Share and Enjoy:
  • Digg
  • Sphinn
  • del.icio.us
  • Facebook
  • Mixx
  • Google
  • StumbleUpon
  • blogmarks
  • Technorati
  • De.lirio.us
  • Gwar
  • Reddit
  • YahooMyWeb

New Orleans! cho tôi nói một lời xin lỗi

C ái tựa bài viết này tôi mượn từ một tờ báo Pháp. Hôm qua, chiều thứ bảy, lên phi trường Gardemoen Oslo đón vợ chồng đứa con trai út nghỉ hè từ Tây Ban Nha về. Chuyến bay đến trễ 40 phút. Trong lúc chờ đợi tôi tạt vào quán cà phê, tìm một chỗ ngồi. Nhìn trên giá báo, tôi bất ngờ đọc được cái tựa lớn trên một tờ báo Pháp:” La Nouvelle Orléans! Je demande pardon! “. Vốn liếng Pháp văn chỉ bì bõm vài ba chữ, nhưng vì tò mò, tôi cầm tờ báo lên tìm đọc.

Bài viết của một cô gái Pháp, có một thời lớn lên ở New Orleans. Năm mười hai tuổi, cô bé theo gia đình về lại quê cha. Từ đó cô chưa có lần trở lại New Orleans. Môt thành phố xinh đẹp, thơ mộng và lãng mạn. Isle d’Orléans của tổ tiên cô bé bao đời về trước. Với cô, nó là “một Pháp Quốc của thời thơ ấu”. Đã bao nhiêu năm về sống tại một vùng ngoại ô Paris, nhưng mỗi buổi sáng thức dậy, dư âm tiếng nhạc Jazz dọc theo con đường Bourbon trong khu Vieux Carré vẫn còn rộn rã bên tai, mùi thơm từ quán Café du Monde trong French Quarter vẫn còn làm cho cô ngây ngất. Nhưng quan trọng hơn hết là ở nơi đó, cô còn có biết bao hang động tuổi thơ. Cô ân hận, vì đã trót bỏ lỡ hai cơ hội khá lý tưởng để trở lại thăm thành phố yêu dấu xưa. Cách đây ba năm, khi cô vừa tốt nghiệp trung học, cha mẹ và người anh của cô trở lại thăm New Orleans, trong lúc cô theo bạn bè cùng lớp tổ chức một trại hè chia tay trên một hòn đảo ngoài khơi bờ biển Nice. Cô hẹn với cha mẹ sẽ sang thăm New Orleans một mình vào hè năm sau. Nhưng khi vào đại học, cô quen một người bạn trai và sau đó cô yêu chàng. Mùa hè năm ấy thay vì đi New Orleans, cô theo người yêu về quê ở Marseille ra mắt bố mẹ chàng. Hè năm sau, cô ngỏ ý với người yêu rủ chàng cùng sang New Orleans, nhưng chàng ta hẹn chờ thêm hai năm nữa, làm đám cưới, chàng sẽ đưa cô sang đó hưởng tuần trăng mật cho thật tròn ý nghĩa. Cô cám ơn thiện ý này. Nhưng rồi cuối mùa thu năm ngoái, buổi sáng, khi lái xe tới giảng đường, một tai nạn giao thông đã làm cô tê liệt cả hai chân. Mùa hè vừa qua, khi cô còn nằm trên giường bệnh, thì người yêu đã làm đám cưới với một cô con gái khác. Điều đau lòng, cô gái này lại chính là cô bạn thân của cô bé.

Đọc tiếp…

Share and Enjoy:
  • Digg
  • Sphinn
  • del.icio.us
  • Facebook
  • Mixx
  • Google
  • StumbleUpon
  • blogmarks
  • Technorati
  • De.lirio.us
  • Gwar
  • Reddit
  • YahooMyWeb

Cái Chết Oan Khuất Của Nhạc Sĩ Minh-Kỳ

“Nha Trang là miền quê hương cát trắng
Có những đêm nghe vọng lại, ầm ầm tiếng sóng xa đưa
Nha Trang cánh đồng bao la bát ngát
Hương quê dâng lên ngào ngạt, hòa cùng sức sống yên vui
…….
Ai ơi, người về cho ta nhắn với
Nha Trang quê hương dịu hiền, ngàn đời lòng tôi mến yêu”

Ai đã sinh ra và lớn lên ở Nha Trang, hoặc đã từng ghé lại đây đôi lần, đều không quên bài hát dễ thương này, mà cả một thời gian gần hai thập niên, đài phát thanh Nha Trang đã dùng làm nhạc hiệu mở đầu.

Cuối tháng 3/75, Nha Trang bị nhận chìm trong làn sóng đỏ. Người Nha Trang đã cùng chịu chung số phận. Kẻ bị giết, người bị tù đày, gia đình, bè bạn, thầy trò, chia ly tan tác. Số phận của nhạc sĩ Minh Kỳ, tác giả bài hát này (cùng nhiều bản nhạc về Nha Trang khác nữa) cũng đã gắn liền với định mệnh đau thương của thành phố mà ông đã được sinh ra, hết lòng yêu thương và đã gởi trọn lòng mình qua những dòng nhạc thiết tha trìu mến đó. Ông đã bị giết. Cái chết thê thảm và oan khuất của ông có lẽ được ít người Nha Trang, - dù còn ở trên quê nhà, hay tha phuơng khắp chốn - biết đến

Người viết bài này, có cái cơ duyên được ở chung cùng một trại tù với ông, và cũng đã được tâm sự cùng ông một vài ngày trước khi ông chết. Đọc tiếp…

Share and Enjoy:
  • Digg
  • Sphinn
  • del.icio.us
  • Facebook
  • Mixx
  • Google
  • StumbleUpon
  • blogmarks
  • Technorati
  • De.lirio.us
  • Gwar
  • Reddit
  • YahooMyWeb

Người Con Gái Phú Hòa

Ôi những con đường đến tự đâu
Một lần gặp gỡ ngã tư nào
Rồi trong vô hạn chia lìa miết
Có cuốn theo mình bụi của nhau
(Tô Thùy Yên)

K hi ra khỏi quân trường, cầm tờ sự vụ lệnh lên trình diện đơn vị tại Ban Mê Thuột, tôi cứ ngỡ là suốt đời binh nghiệp của mình sẽ gắn liền với rừng núi cao nguyên. Nhưng không ngờ  tiểu đoàn của tôi được chọn làm đơn vị trừ bị cho quân đoàn, nên nhiều khi buổi sáng còn ở trong núi rừng Quảng Đức, Lâm Đồng, buổi chiều lại có mặt ở bờ biển Bình Tuy, Cam Ranh, Phan Thiết

Một ngày cuối năm 1966, sau hai tháng đánh đấm ở Bình Định, Phú Yên, đơn vị tôi cùng một chi đoàn thiết quân vận tăng phái, được tàu hải quân bỏ xuống bờ biển Nha Trang. Trong đám lính phong trần, có lẽ tôi là thằng mừng vui nhất, không phải đang từ một vùng lửa đạn được đổi đến thành phố  biển an bình , nhưng vì bất ngờ được trở lại quê hương, nơi còn rất nhiều dấu vết  tuổi thơ . Cuộc hành quân mang tên “Hải Âu” này, với tôi nó còn là một “định mệnh”, khi cả đơn vị tôi đổ quân xuống thị trấn Ninh Hòa lúc hai giờ sáng. Bởi chính lần này cuộc đời tôi cột chặt với vùng đất có “con sông Dinh chảy qua Cầu Sắt” này.

Hơn ba tuần trong mật khu Đá Bàn, chúng tôi xuống Phú Gia nhận lương thực rồi kéo qua Tân Hưng, Trường Lộc và cuối cùng về nghỉ dưỡng quân hai tuần tại Phú Hòa, một làng quê an bình và trù phú như cái tên gọi.

Tôi tìm địa hình thích hợp để bố trí quân, và chọn khu vườn sau một ngôi nhà lớn nằm trên vị trí khá cao bên con hương lộ, để xin được đặt ban chỉ huy đại đội

Bà chủ nhà đón tôi bằng một nụ cười phúc hậu của một bà mẹ thương con. Bà vui vẻ cho phép chúng tôi được xử dụng cái hiên nhà rộng rãi và thoáng mát làm “bản doanh”. Cần bất cứ thứ gì bà sẵn lòng giúp. Ông chủ cũng là một người nặng tấm lòng, hỏi han từng người lính.  Ông Bà xem chúng tôi như con cháu trong nhà, hơn nữa thấy lính tráng khổ cực, Ông Bà  thương. Bọn tôi ai nấy cũng cảm động trước tấm lòng nhân hậu của Ông Bà, nhưng theo lệnh trên, không cho phép ở trong nhà dân mà chỉ xin được ở ngoài vườn.

Hai ngày sau, thứ bảy, tôi mới phát hiện nhiều đìều thú vị. Đúng là ở hiền gặp lành, Ông Bà có đến năm, sáu cô con gái, mà cô nào cũng xinh đẹp, hiền thục và học hành giỏi. Nghe nói ba cô chị thì đã đi làm hay đi học ở Nha Trang, chỉ về thăm nhà vào cuối tuần, còn mấy cô em thì đang học ở trường trung học quận lỵ. Hỏi ra thì hầu hết các cô nương này tôi chưa gặp nhưng đã nghe danh từ lúc tôi còn đi học ở Nha Trang..
Đọc tiếp…

Share and Enjoy:
  • Digg
  • Sphinn
  • del.icio.us
  • Facebook
  • Mixx
  • Google
  • StumbleUpon
  • blogmarks
  • Technorati
  • De.lirio.us
  • Gwar
  • Reddit
  • YahooMyWeb

chuyện một người bạn học

 
icon for podpress  Audio Book: Chuyện Một Người Bạn Học: Play Now | Play in Popup

T rước khi vào đệ tam Võ Tánh, hai thằng cùng học một lớp bên trường Văn Hóa. Năm đệ ngũ, niên học khai giảng hơn hai tuần thì cô Hương, giám thị, dẫn một người vào lớp. Mới đầu, từ cô Tùng Linh, giáo sư hướng dẫn, đến học trò, không ai nghĩ anh ta sẽ là học sinh vào lớp đệ ngũ này. Người cao lớn, vạm vỡ, đẹp trai, mái tóc bồng bềnh, mặc một cái áo sơ mi sọc đậm, ngắn tay, xăn cao, quần sans-pli bó ống với cái nịt to bản và đôi giày da bóng đi kêu lộp cộp. Lại còn cái kính đen dắt trên dây nịt nữa chứ. Một cuốn tập cuốn tròn trong túi sau.
Cả lớp tròn mắt ngạc nhiên khi nghe cô Hương giới thiệu anh ta là học trò mới, từ xa đến.
Cái tên nghe cũng lạ : Lâm Ni.
(Sau này mới biết anh ta gốc tàu Chơ Lớn, cha Tàu mẹ Việt. Gia đình giàu có. Cha anh làm chủ một công ty xuất nhập cảng. Vì không kiểm soát được anh, nên gởi anh ra Nha Trang ở với ông cậu, là chỉ huy phó quân trường Đồng Đế. Ba má anh tin tưởng ông cậu nhà binh này sẽ đưa thằng con cưng của mình đi vào nề nếp. Cùng với không khí mát mẻ, hiền hòa của thành phố biển sẽ làm nó hiền lành ngoan ngoãn hơn).
Đọc tiếp…

Share and Enjoy:
  • Digg
  • Sphinn
  • del.icio.us
  • Facebook
  • Mixx
  • Google
  • StumbleUpon
  • blogmarks
  • Technorati
  • De.lirio.us
  • Gwar
  • Reddit
  • YahooMyWeb

những điều mơ ước

Có một dạo, đi đâu tôi cũng nghe thiên hạ hát bài Con Chim Đa Đa, “sao không lấy chồng gần mà đi lấy chồng xa..” rồi đến bài Chị Tôi, “thế là chị ơi rụng bông hoa gạo”. Đúng như người ta nói, Thơ và Nhạc có ngôn ngữ riêng của nó. Một người không có nhiều chữ nghĩa như tôi, nhiều khi say mê hát một bài hát mà sau đó suy nghĩ mãi vẫn không hiểu rõ ngọn ngành, ý nghĩa một vài câu. Trong bài Chị Tôi, tôi cũng rất ư là lờ mờ cái sự kiện.. rụng bông hoa gạo..và trời cho làm thơ.. này lắm. Dù vậy tôi vẫn thấy bản nhạc phổ từ một bài thơ chỉ vỏn vẹn mấy câu này, khá hay. Mà ngay đến cái sự hay này tôi cũng mơ hồ, không biết có đúng là tôi biết thưởng thức thơ nhạc không, hay là chỉ vì có sự đồng cảm mà tôi thấy lòng mình xúc động. Bởi vì mỗi lần nghe ai đó hát bản nhạc Chị Tôi, tôi lại da diết nhớ đến bà Cô Út của tôi.

Từ lúc chưa tròn ba tuổi, tôi lớn lên trong cái bất hạnh của một người chưa hề có “bông hồng cài áo”. Mẹ tôi mất quá sớm, đến nổi tôi không bao giờ hình dung được khuôn mặt hiền từ phúc hậu của bà như lời cha tôi kể lại. Nỗi bất hạnh đó lại càng lớn hơn, khi tôi không có một bà chị nào để được dịp nhìn dung nhan Chị mà mơ tưởng đến bóng hình của Mẹ. Ba tôi đang dạy học ở trường Pháp Việt thì bị Việt Minh đưa ra liên khu năm làm công tác “xóa nạn mù chữ”. Khi lớn lên một chút, bắt đầu nhận hiểu được đôi ba điều quanh mình, tôi chỉ biết là hai anh em tôi lớn lên ở nhà ông bà nội, và trong vòng tay yêu thương cùng giọng hát ru hời của bà Cô Út.

Đọc tiếp…

Share and Enjoy:
  • Digg
  • Sphinn
  • del.icio.us
  • Facebook
  • Mixx
  • Google
  • StumbleUpon
  • blogmarks
  • Technorati
  • De.lirio.us
  • Gwar
  • Reddit
  • YahooMyWeb

Audio Book: Chuyện Một Người Bạn Học

 
icon for podpress  Audio Book: Chuyện Một Người Bạn Học: Play Now | Play in Popup

Bấm vào PLAY NOW để nghe đọc truyện Chuyện Một Người Bạn Học. Do Thu Sương (Pháp Quốc) đọc và hát.

Share and Enjoy:
  • Digg
  • Sphinn
  • del.icio.us
  • Facebook
  • Mixx
  • Google
  • StumbleUpon
  • blogmarks
  • Technorati
  • De.lirio.us
  • Gwar
  • Reddit
  • YahooMyWeb

Audio Book: Tiểu Thơ

 
icon for podpress  Tiểu Thơ: Play Now | Play in Popup

Bấm vào PLAY NOW để nghe đọc truyện Tiểu Thơ. Do Thu Sương (Pháp Quốc) đọc và hát.

Share and Enjoy:
  • Digg
  • Sphinn
  • del.icio.us
  • Facebook
  • Mixx
  • Google
  • StumbleUpon
  • blogmarks
  • Technorati
  • De.lirio.us
  • Gwar
  • Reddit
  • YahooMyWeb

Share and Enjoy:
  • Digg
  • Sphinn
  • del.icio.us
  • Facebook
  • Mixx
  • Google
  • StumbleUpon
  • blogmarks
  • Technorati
  • De.lirio.us
  • Gwar
  • Reddit
  • YahooMyWeb

Người cựu tù Phạm Tín An Ninh ra mắt sách: Ở Cuối Hai Con Ðường

Nguyên Huy/Người Việt

Ở cuối hai con đường, dù là những đoạn đường gian lao, khổ ải nhưng vẫn là nơi gặp được tình người để từ đó người ta có thể yêu thương nhau mà cùng chung xây dựng hạnh phúc. Ðó là suy nghĩ và mong mỏi của người cựu tù Phạm Tín An Ninh khi ông viết tập truyện ngắn đầu tay “Ở Cuối Hai Con Ðường”.Tập truyện ngắn này vừa được tác giả và gia đình từ Vương Quốc Na Uy tới cho ra mắt tại phòng sinh hoạt của nhật báo Viễn Ðông vào chiều hôm Thứ Bảy 26 tháng 7 vừa qua.

Khoảng ba trăm đồng hương trong đó nhiều người từng là độc giả của ông đã đến tham gia buổi ra mắt sách này khiến phòng sinh hoạt không còn một chỗ trống. Nhiều người đã phải đứng trong suốt buổi, kể cả phía ngoài hội trường.

Lý do khiến cuộc ra mắt sách này được đông đồng hương đến theo một số người tham dự cho biết thì “cuốn sách này tác giả đã thể hiện được cái tình người đối với nhau dù trong những hoàn cảnh khó khăn khắc nghiệt mà chế độ Cộng Sản đã áp đặt lên người dân Việt. Một lý do khác cũng khiến đồng hương đến đông là vì tác giả đã xin được cống hiến toàn số tiền bán sách cho Hội H.O. Cứu Trợ Thương Phế Binh & Quả Phụ VNCH”.

Ba giáo sư uy tín trong cộng đồng người Việt hải ngoại là cựu Thứ Trưởng Giáo Dục VNCH Nguyễn Thanh Liêm, Tiến Sĩ Trần Huy Bích và Giáo Sư Lưu Trung Khảo đã nhận đến giới thiệu phân tích, đóng góp ý kiến về cuốn sách này.

Đọc tiếp…

Share and Enjoy:
  • Digg
  • Sphinn
  • del.icio.us
  • Facebook
  • Mixx
  • Google
  • StumbleUpon
  • blogmarks
  • Technorati
  • De.lirio.us
  • Gwar
  • Reddit
  • YahooMyWeb

phạm tín an ninh - văn chương tử tế

Giao Chỉ

Trong đời sống của chúng ta, tìm được văn chương tử tế có lẽ cũng khá vất vả. Nếu không đánh phá, tấn công, đấu tranh mãnh liệt thì cũng nói nặng nói nhẹ, tiếng bấc tiếng chì. Và lịch sự lắm thì cũng ca cẩm phàn nàn. Đôi khi tác giả viết văn chỉ tử tế với mình còn xem ra thiên hạ chẳng có ai tử tế.Văn chương của Phạm Tín An Ninh không đi vào những con đường gai góc đó. Chuyện của ông toàn là chuyện tử tế và may mắn. Thậm chí khi đi cải tạo thì gặp cả quản giáo cũng tử tế. Tác giả kể chuyện đi lính, hành quân, trận mạc dù ác liệt đến đâu cũng dữ dội vừa phải. Từ quê hương miền duyên hải ông An Ninh lấy vợ Ninh Hòa, mối tình rất êm đẹp ôn hòa, không trắc trở, không ngang trái. Cuộc đời cứ phẳng lặng như bãi cát trắng miền Thùy Dương. Chinh chiến, tù đày, vượt biên, tàu cứu, định cư cho đến lúc về già tất cả cuộc đời dàn trãi trên nhiều bài tạp bút với bao nhiêu tao ngộ tình cờ. Tất cả đều toát ra văn phong của một ngòi bút tử tế và hết sức lạc quan. Thậm chí cho đến những chuyện tang tóc chung sự, những cái chết cũng chung hậu ngọt ngào. Chuyện của ông là chuyện đời thường nhưng sao tràn ngập những tình cờ hạnh ngộ. Nhiều đến nỗi dù có thật hay tưởng như thật mà độc giả cũng vẫn có thể đặt dấu hỏi. Trên đời này quả thật có nhiều sự ngẫu nhiên huyền diệu như thế chăng.

Đọc tiếp…

Share and Enjoy:
  • Digg
  • Sphinn
  • del.icio.us
  • Facebook
  • Mixx
  • Google
  • StumbleUpon
  • blogmarks
  • Technorati
  • De.lirio.us
  • Gwar
  • Reddit
  • YahooMyWeb

“Ở Cuối Hai Con Đường” ra mắt tại Nam Cali

RA MẮT THÀNH CÔNG Ở NAM CALIFORNIA

(Westminster 26-7-2008) Trong những năm trở lại trên các trang điện toán cũng như trên các tuần báo tại hải ngoại chúng ta được đọc nhiều truyện ngắn của tác giả Phạm Tín An Ninh. Đây là một tác giả tương đối tên tuổi còn mới mẻ, nhưng những trang viết của ông đã thu hút nhiều sự chú ý của độc giả ở khắp nơi, ngoài cũng như trong nước. Chúng ta đã được đọc nhiều tác giả về quân ngũ và đời tù “cải tạo”, nhưng Phạm Tín An Ninh có một chỗ đứng riêng, vượt lên trên những cảnh đổi đời, thăng trầm của cuộc sống là thứ tình người chan chứa. Chuyện ngắn hay nhất của Phạm Tín An Ninh được nhiều người biết đến chính là chuyện “Ở Cuối Hai Con Đường” mà ông đã lấy tên đặt cho tập truyện ngắn đầu tay. Phạm Tín An Ninh trở thành một hiện tượng viết mới, ở đó lao tù, khổ đau và những gian truân thay đổi của cuộc đời hình như trở thành mờ nhạt, để ở mọi nơi, tình người vượt trội, chứa chan trong mỗi dòng chữ viết, mỗi lời văn, từ những lời nói của từng nhân vật.

Đọc tiếp…

Share and Enjoy:
  • Digg
  • Sphinn
  • del.icio.us
  • Facebook
  • Mixx
  • Google
  • StumbleUpon
  • blogmarks
  • Technorati
  • De.lirio.us
  • Gwar
  • Reddit
  • YahooMyWeb

nỗi buồn mùa thu

Truyện Phiếm

Có lẽ những chiếc lá mùa thu đã nhuộm vàng phần lớn thi ca nhân lọai. Và dường như nếu không có mùa thu thì những cuộc tình sẽ không còn lãng mạn, thế gian này sẽ không có mặt của thi nhân. Ông Văn Cao đã khởi đầu sự nghiệp của mình bằng ” Buồn Tàn Thu” để rồi cuộc đời của người nghệ sĩ tài hoa này cũng tàn theo Giai Phẩm Mùa Thu (trong Nhân Văn Giai Phẩm). Ông mất đi trong cảnh khốn cùng để lại cho đời một kho tàng âm nhạc quí giá , cùng sự thương tiếc ngậm ngùi và bao điều suy ngẫm. ” Cây đại thụ” Phạm Duy phỏng theo một bài thơ Tây, phổ bản “Mùa Thu Chết“, để rồi tên tuổi cũng đã chết theo mùa thu ở cái “thị trấn giữa đàng” bên tận xứ Cali, bởi cái tính kênh kiệu và nói năng đôi điều phản trắc, chỉ để lại cho những người từng hâm mộ ông sự chua xót, bẽ bàng. Ở Việt nam ta, nếu ” con nai vàng ngơ ngác đạp trên lá vàng khô “đã làm nên Lưu Trọng Lư, thì bên Tây “Les Feuilles Mortes” đã khắc sâu tên tuổi Jacques Prévert trong lòng những người mê thơ, yêu nhạc.
Đọc tiếp…

Share and Enjoy:
  • Digg
  • Sphinn
  • del.icio.us
  • Facebook
  • Mixx
  • Google
  • StumbleUpon
  • blogmarks
  • Technorati
  • De.lirio.us
  • Gwar
  • Reddit
  • YahooMyWeb

Cái Nón Lá

Truyện Phiếm

Lần “đáo xứ cố hương” vừa rồi, tôi có theo bà vợ Ninh-Hòa đến thăm ngôi trường Trần Bình Trọng, để tìm lại chút kỷ niệm xưa, mà bà cho là dễ thương nhất trong đời một người con gái, cho dù đến bây giờ tất cả chỉ là như khói như sương mà sao cứ mãi còn đọng lại ở đâu đó trong hồn nàng. Ngôi trường đã thay tên từ cái thuở thiên hạ đổi đời, sau cái ngày hai miền thống nhất để “miền Nam thì nhận họ, còn miền Bắc thì nhận..hàng”, nên không còn cái cảm giác thân quen, mặc dù bây giờ chúng tôi vẫn đang trở lại bằng những con đường xưa lối cũ. Đọc tiếp…

Share and Enjoy:
  • Digg
  • Sphinn
  • del.icio.us
  • Facebook
  • Mixx
  • Google
  • StumbleUpon
  • blogmarks
  • Technorati
  • De.lirio.us
  • Gwar
  • Reddit
  • YahooMyWeb

chuyện con dế

Truyện Phiếm:

Nhờ có bạn bè lưu lạc khắp năm châu nên tôi được đi đây đi đó hơi nhiều, “tham quan” một số danh lam thắng cảnh của nhân gian. Nhưng tôi phải thành thật mà khoe rằng, có lẽ không có mùa hè ở nơi nào đẹp và khí hậu dễ thương cho bằng mùa hè ở mấy xứ Bắc Âu này. Khi tuyết vừa tan, mùa đông chưa kịp hẹn lời tái ngộ, thì ngàn cây nội cỏ đã đua nhau đâm chồi nẩy lộc để chào đón ánh mặt trời. Trong núi rừng, dưới thung lũng, trên những cánh đồng lúa mì, hai bên đường, các bãi cỏ trong công viên, khắp mọi nơi, những cánh hoa loovetann vàng (trông như hoa cúc quê mình) nở rộ. Ở đâu cũng bát ngát một màu vàng. Cái nắng đầu hè lại dịu mát như mùa thu trên những cao nguyên bên quê nhà mà ngày xưa tôi đã có dịp đi qua trong những lần hành quân. Mùa hè ở đây gợi nhớ da diết đến quê hương và kỷ niệm. Đặc biệt tôi nhớ đến cha tôi và cả một thời thơ ấu mà tôi lớn lên không có mẹ. Tôi thường đứng yên lặng một mình trên bao lơn trong sở làm hoặc trước hiên nhà, nhìn ra những cánh đồng cỏ và rừng núi xa xa phía trước để trải hết lòng mình. Nhưng rồi dường như cũng không tránh khỏi định luật bù trừ của trời đất, mùa hè ở đây cũng như một cô con gái đẹp, lúc nào cũng muốn làm khốn khổ những chàng trai mê muội, mà người ta đã ví von là “cánh hoa hồng nào mà lại không có gai “

Chính cái phấn hoa từ rừng hoa bát ngát một màu làm vàng cả không gian kia, lại là mầm móng gây nên chứng bệnh dị ứng (allergi) để cho những thằng lười biếng chích ngừa kinh niên như tôi khổ sở không ít, khi cả ngày cứ ngứa ngáy mắt mũi.

Mà cũng nhờ vậy nên tôi phải nằm nhà để có dư thì giờ vào đọc mấy tờ báo điện tử bên quê nhà xem thế sự ra sao. Tôi cũng “hồ hởi” thấy báo chí bên nhà, thời kinh tế thị trường, đã “có vẽ” như trăm hoa đua nở trên mạng, trình bày cũng khá hấp dẫn, nên tôi lần lượt đọc qua một loạt các tin tức từ chính trị, kinh tế, văn hóa, đến pháp luật.

.

Thú thật, tôi rất thất vọng, thấy lòng “bức xúc” sau khi đọc qua một loạt tin tức trên báo chí quê nhà. Loại báo chí luôn luôn đi theo “lề đường bên phải” của ông bộ trưởng văn hóa thông tin nhà nước, nên nội dung giống nhau như đúc. Hầu hết là những thành công và thắng lợi dưới sự lãnh đạo tài ba của đảng và nhà nước.Tôi đành tìm sang trang quảng cáo hy vọng thay đổi không khí, biết đâu lại tìm được đôi điều thú vị. Nhưng tôi bỗng giật mình, khi bất ngờ đọc tới cái đoạn quảng cáo nhỏ sau đây trên đầu một trang báo: “Thịt Dế. Món ăn của người sành điệu nhất hiện nay” và phía dưới mô tả thêm: ” Dân nhậu sành điệu rất khoái món dế, bởi thịt dế béo như tôm sú, ngọt như thịt cua, vừa thơm ngon bổ dưỡng lại vừa chửa được nhiều thứ bệnh như đau nhức, tê thắp, béo phì. Giá một con dế trong nhà hàng là 10.000 đồng. Dế có thể chế biến được nhiều món như chiên xù, xào lăn, kho tiêu, ram mặn, nướng kẹp bánh mì, lẩu, gỏi…Hiện ở thành phố Hồ chí Minh, 1 kg dế có thể bán tới 250.000đồng. Ở một số nước, dế được coi là món ăn “cao lương mỹ vị” và chỉ dùng để đãi khách quí, nên ở Thái Lan, giá 1kg dế lên tới 40 đôla, ở Mỹ là 60 đôla. Vốn là một loại thức ăn bổ dưỡng, dế rất hấp dẫn các du khách Việt kiều, Nhật Bản, Đài Loan, Australia… đến Việt nam.. Cũng như bất cứ loại động vật hoang dã nào, dế đã trở thành món đặc sản trong các nhà hàng hay các quán nhậu, nhất là ở TP/HCM.” Một cậu bé chăn bò ở miền đồng bằng Nam Bộ, nhờ kinh nghiệm đá dế và bắt dế, vừa trở thành nhà tỷ phú vì lập ra một công ty nuôi và xuất cảng Dế mà cậu ta đang làm giám đốc, với sự trơ giúp của gia đình và chính quyền địa phương…”. Đọc tiếp…

Share and Enjoy:
  • Digg
  • Sphinn
  • del.icio.us
  • Facebook
  • Mixx
  • Google
  • StumbleUpon
  • blogmarks
  • Technorati
  • De.lirio.us
  • Gwar
  • Reddit
  • YahooMyWeb

Audio Book: Người Bán Sách Trên Bãi Biển Nha-Trang

 
icon for podpress  Audio Book: Người Bán Sách Trên Bãi Biển Nha-Trang: Play Now | Play in Popup

Xin click vào Link PLAY NOW để nghe đọc bài Người Bán Sách Trên Bãi Biển Nha Trang. Giọng đọc và lời ca của Thu Suong (Paris).

Share and Enjoy:
  • Digg
  • Sphinn
  • del.icio.us
  • Facebook
  • Mixx
  • Google
  • StumbleUpon
  • blogmarks
  • Technorati
  • De.lirio.us
  • Gwar
  • Reddit
  • YahooMyWeb

Audio Book: Đọc Ở Cuối Hai Con Đường

 
icon for podpress  Audio Book: Đọc Ở Cuối Hai Con Đường: Play Now | Play in Popup

Bấm vào PLAY NOW để nghe đọc truyện Ở Cuối Hai Con Đường. Do Thu Sương (Pháp Quốc) đọc và hát.

Share and Enjoy:
  • Digg
  • Sphinn
  • del.icio.us
  • Facebook
  • Mixx
  • Google
  • StumbleUpon
  • blogmarks
  • Technorati
  • De.lirio.us
  • Gwar
  • Reddit
  • YahooMyWeb

gs Trần Huy Bích đọc Phạm Tín An Ninh

Từ Mai Trần Huy Bích

Với nhiều người mến mộ, nhà văn Phạm Tín An Ninh thường nói: ông không phải là một nhà văn. Thực ra, từ những ngày thơ ấu ở làng Phú Hội, huyện Vạn Ninh, tỉnh Khánh Hòa, qua những ngày đi học ở Nha Trang, Sàigòn, những ngày trong quân ngũ như hầu hết thanh niên Việt ở cùng tuổi, cùng thời, cho tới những năm bị kẻ chiến thắng đầy đọa trong các trại khổ sai mang danh trại “cải tạo,” ông chưa bao giờ có ý nghĩ sẽ cầm bút để viết truyện. Chỉ sau khi “trải qua một cuộc bể dâu,” khi cuộc sống đã tạm ổn định trong cảnh lưu lạc, cách quê hương nửa vòng trái đất, nhất là trong những lúc thật buồn, ông mới dành được chút thời giờ ngồi viết lại những kỷ niệm cũ để giải tỏa bớt phần nào những u ẩn trong tâm tư. Ông cho biết hầu hết các bài viết, truyện ngắn của ông đều bắt nguồn từ những sự kiện có thật trong cuộc đời của chính ông, của gia đình, họ hàng, và những bạn bè thân.

Phạm Tín An Ninh nhận định về việc ông được mến mộ một cách rất khiêm nhượng. Theo ông, ở thế hệ chúng ta, ai cũng phải trải qua nhiều mất mát, thăng trầm. Vì thế khi đọc ông, hầu hết độc giả đều thấy sự đồng cảm, và do đó, đã dành cảm mến cho tác giả. Ông được coi như đã “viết hộ,” “nói ra hộ” nhiều người không có cơ hội cầm bút, hoặc năng khiếu vận dụng ngòi bút.

Có người cho rằng cảnh ngộ của cá nhân và đất nước đã khiến Phạm Tín An Ninh thành công như một nhà văn: sự sụp đổ của miền Nam năm 1975 với những đau thương, ngang trái ông đã phải trải qua hay chứng kiến. Tuy không ai muốn đón nhận, đau khổ trong cuộc đời vẫn là những đóng góp giá trị cho văn chương. Cuộc đời nhà thơ Đỗ Phủ với những cảnh trong xã hội chung quanh khi biến loạn An Lộc Sơn xảy ra đã là một dẫn chứng cụ thể. Tam nguyên Vị Xuyên Trần Bích San cũng cho rằng những từng trải trong cuộc sống khiến văn chương thêm già dặn và phong phú: “Văn phi sơn thủy vô kỳ khí, Nhân bất phong sương vị lão tài” (Không có “núi” và “nước,” văn không có khí lạ, không trải qua sương gió, người chưa có khả năng già dặn). Chính những thương đau, tủi nhục xảy tới cho bản thân, gia đình, bạn hữu cùng bao người quen biết sau những tan tác năm 1975 đã giúp Phạm Tín An Ninh chất liệu để hoàn tất hầu hết các truyện ngắn của ông, nhất là “Chiếc nhẫn cưới,”  “Đà lạt trời mưa,”  “Ba dòng nước mắt,”  “Người bán sách trên bãi biển Nha Trang” … Cũng công bình mà nói, không nhiều người viết có được những cơ duyên hữu ích cho việc xây dựng truyện như ông. Gặp được một quản giáo có tình người và lương tâm như Thượng úy Nguyễn Văn Thà trong một trại “học tập cải tạo” đã là một may mắn hiếm có. Nhưng sau đó, lại gặp trên đất Na uy con của một nhân vật từng giữ địa vị cao của chế độ Hà nội để có thể nhắn tin, tìm cách giúp ông Thà đã bị “phục viên” về sống ở Nghệ Tĩnh, cộng thêm mối giao tình với một Đại tá Ba Lan, người đang giữ trọng trách trong ngành Cảnh sát nước này, để nhờ đó có thể giúp hai người con ông Thà đang lưu lạc trên đất Ba Lan một cách thực tiễn, thì quả là những hạnh ngộ đặc biệt. “Ở cuối hai con đường” đã không thể thành công như chúng ta đã thấy nếu tác giả không có những cơ duyên đặc biệt ấy.

Trên một khía cạnh khác, dù có nhiều từng trải, nhưng nếu người trải qua cảnh ngộ không có một cái “tâm” đồng cảm thì câu chuyện chưa chắc được lưu ý đúng mức để có thể viết ra. Cho dù có được viết, đôi khi cũng chỉ thành những chuyện kể kém sâu sắc. Từ nhỏ, ai trong chúng ta không có ít nhiều liên hệ đáng ghi nhớ với họ hàng, bè bạn, không chứng kiến một số cảnh đau khổ? Từ sau 1975, bao nhiêu người trải qua hoặc thấy tận mắt những oan trái, thương đau. Nhưng số lượng tác phẩm chan chứa tình cảm, có thể khiến người đọc xúc động vẫn chưa xuất hiện nhiều. Phạm Tín An Ninh quả có nhiều từng trải và cơ duyên để thành một nhà văn, nhưng yếu tố chính khiến ông trở nên một nhà văn được chúng ta quý mến không chỉ ở những ưu điểm ấy.

Một đặc điểm nổi bật trong hầu hết các truyện của Phạm Tín An Ninh là chan chứa tình cảm và tình người. Khi kể lại những đau khổ, bất công bản thân mình phải gánh chịu, ông viết rất bình thản, nhẹ nhàng. Nhưng khi kể lại những đau khổ, bất công người khác phải gánh chịu, hoặc khi kể lại những hi sinh của người khác, ông tha thiết và chân thành. Nói chung, tác phẩm của ông là tác phẩm của tình người, với niềm trắc ẩn, sự cảm thông, lòng hi sinh và thương yêu.

Qua Phạm Tín An Ninh, những người Việt không hề quen biết trước, chỉ cần chút “đồng cảnh,” cũng đủ để thương nhau. Chúng ta hãy đọc một đoạn trong bức thư người con bà Vương Chu Khánh Hà (một bà cụ gốc Hà nội, “cái thời còn một Hà nội thanh lịch,” gửi cho tác giả, một tù “cải tạo” cũ) ở cuối truyện “Thằng bé đánh giày người Nghĩa Lộ”:

“Không ngờ chỉ có mấy ngày ngắn ngủi rất xa xưa, mà mãi đến nay Anh vẫn còn nhớ đến mẹ con em. Riêng em thì gần như đã quên chuyện ấy nếu không có Anh nhắc lại hôm nay.

Giờ em mới nhớ lại, sau khi các anh rời khỏi nhà em, mẹ em khóc mất mấy hôm. Bà bảo phần thì tội nghiệp các anh, phần thì nghĩ tới số phận oan khiên của gia đình em vào những ngày Đảng vừa lên nắm chánh quyền. Bà bảo các anh và gia đình chúng em cũng cùng gánh chung số phận.”

Sau khi cho biết bé Khiêm đã qua đời (đứa bé từ quê hương Nghĩa Lộ ngoài Bắc đã phải vào tận Sàgòn đánh giày kiếm sống và được tác giả tặng tiền giúp đỡ sau khi phát hiện là cháu một ân nhân cũ), người cha của cháu viết cho tác giả như sau:

“Bây giờ cháu cũng đang nằm bên cạnh ông bà nội và cô út của nó, chắc cháu cũng được ấm lòng nơi chín suối. Chúng em tin là cháu sẽ mãi mãi theo phù hộ cho Anh trong những ngày Anh xa quê, lưu lạc xứ người.”

Chúng ta hãy đọc một đoạn trong “Những điều mơ ước,” viết về cuộc đời của Cô Út, người cô ruột không lập gia đình, đã chăm sóc và yêu thương tác giả từ sau khi mất mẹ ở tuổi lên 2:

“Ngày mãn phép, tôi trở lại đơn vị, Cô giặt ủi mấy bộ áo quần của tôi xếp vào túi xách, kèm theo một gói xôi đậu xanh để ăn dọc đường. Ngồi trên xe đò, khi lấy gói xôi ra ăn, tôi thấy có một cái túi nhỏ may bằng vải, mở ra mới biết, một xấp tiền mới tinh xếp ngay ngắn trong đó. Nhớ tới Cô, nước mắt tôi cứ trào ra.”

Và đây là tình cảm giữa hai cô cháu khi tác giả phải bỏ nước ra đi:

“Khi tính chuyện vượt biển, tôi tâm sự xin Cô cùng đi với chúng tôi. ‘Dù trôi nổi ở đâu, có Cô bên cạnh là con mãn nguyện rồi.’ Nhưng Cô bảo Cô đã già, không muốn rời bỏ quê hương, hơn nữa còn phải trông coi ngôi nhà từ đường và mồ mả ông bà, không để cho hương tàn khói lạnh…

“Mấy ngày sau, tôi thấy Cô xuống tóc và ăn chay trường. Đêm nào cũng quì trước bàn thờ. Tôi biết là Cô đang cầu nguyện cho tôi đi đến bến bờ. Hôm tiễn biệt, Cô nắm chặt tay tôi: ‘Xin ông bà và cha mẹ con phù hộ cho vợ chồng con và mấy đứa nhỏ,’ rồi im lặng nhìn tôi với hai hàng nước mắt.”

Theo Phạm Tín An Ninh, người Việt Nam sẽ có đủ khả năng để tỉnh một cơn ác mộng, nhận ra những sai trái, và biết thương yêu nhau. Chúng ta hãy đọc một đoạn trong bức thư ông nhận được từ Thượng úy Nguyễn Văn Thà trong truyện “Ở cuối hai con đường”:

“Hơn ba năm nay, tôi bị ốm nặng, nằm liệt giường. Nhờ chị em cháu Hà gởi tiền về nuôi tôi và cả gia đình, tôi mới còn sống được đến hôm nay. Biết trốn lại Ba Lan, không có giấy tờ, hai cháu sẽ khó khăn ghê lắm, nhưng vẫn còn hơn là về lại bên này. Có làm suốt ngày cũng chẳng đủ ăn. May mà nhờ các anh hết lòng giúp hai cháu. Cái ơn này biết khi nào chúng tôi mới trả được cho các anh đây.

“Tôi biết mình không còn sống bao lâu. Cuối đời một con người, tôi nghiệm rõ được một điều: chỉ có cái tình con người với nhau mới thực sự quí giá và tồn tại mãi với thời gian. Những chế độ này, chủ nghĩa nọ, cuối cùng cũng chỉ là những đám mây đen bay trên đầu. Đôi khi che ta được chút nắng, nhưng nhiều lúc đã trút bao cơn mưa lũ xuống để làm khốn khổ cả nhân gian.”

Cùng với Phạm Tín An Ninh, chúng ta ước mong những điều Thượng úy Thà nhận thức được trước khi hấp hối cũng sẽ là nhận thức chung của đa số người Việt:

“Không ngờ lá thư đầu tiên này cũng là lá thư cuối cùng chúng tôi nhận được từ anh Thà. Anh đã qua đời sau đó không lâu. Nghe cháu Hà kể lại, khi hấp hối, anh bảo vợ anh mang mấy cái huy chương anh được cấp trong thời chiến tranh, đào lỗ chôn xuống phía sau nhà. Anh thầm thì: ‘Xin hãy chôn chặt hộ tôi cái quá khứ đau thương và lầm lỡ đó. Chính nó đã gây biết bao chia lìa, tang tóc, và thù hận giữa những anh em cùng một mẹ, không biết sẽ kéo dài cho đến bao giờ?’”

Tuy được xây dựng trên những dữ kiện có thật, nhiều truyện của Phạm Tín An Ninh được dàn xếp rất khéo. Dùng yếu tố bất ngờ, ông đã tạo cho người đọc nhiều ngạc nhiên thích thú. Trong “Đà lạt trời mưa,” sau khi để ta thất vọng, có phần bực bội, vì “ca sĩ Hà Anh” trong buổi họp mặt của Hội Đồng Hương Đà Lạt ở California năm 2000, tuy nét mặt vẫn thế, không còn là Hà Nhất Anh đầy tình nghĩa xuất hiện ở Đà Lạt trước kia. Yếu tố then chốt (hai chị em Nhất Anh, Nhị Anh giống hệt nhau) chỉ được đưa ra ở hai trang cuối để câu chuyện được kết thúc một cách thỏa đáng, rất đẹp, và “có hậu.”

Trong “Người bán sách trên bãi biển Nha Trang,” tác giả về thăm quê lần thứ hai sau hơn 16 năm từ ngày vượt biển ra đi. Mục đích tìm mộ cô em gái để có thể cải táng cạnh mộ thân phụ và thân mẫu trong nghĩa trang gia tộc ở quê trong chuyến về năm trước chưa thành công. Do mối thiện cảm đặc biệt với một người bán sách dạo nhã nhặn, trọng tư cách, nhưng tàn tật đã gặp trong chuyến về trước, ông để ý tìm tung tích người ấy. Khi biết tin anh ta đã mất, lòng ông thắt lại vì thương cảm, nhờ người đưa ra mộ để “thắp cho anh nén hương.” Sau khi đứng trước mộ thắp hương và nguyện cầu, ông bước sang thắp thêm ba nén hương ở mộ bên cạnh (được cho biết là mộ của “cô em gái anh Bá,” người bán sách). Nhân tò mò bước lên xem tấm ảnh trên mộ bia, ông lặng người bàng hoàng vì “cô em gái” người bán sách này chính là cô em ruột của ông, người ông đang cố tìm mộ để có thể cải táng về nghĩa trang gia tộc. Sự việc được giải thích một cách thật cảm động sau khi tác giả có trong tay cuốn nhật ký của anh Bá. Qua nhật ký, ông được biết rằng anh, một Trung úy phi công ưu tú của miền Nam trước, chính là người yêu chung thủy và tình nghĩa của em gái ông mà vì đời sống trong quân ngũ trước 1975, ông chưa có dịp gặp mặt. Chính anh đã dành dụm tiền xây lại ngôi mộ của cô, và đã mua phần đất bên cạnh, dành trước cho mình.

Tác giả dùng những hàng sau đây để kết thúc câu chuyện bất ngờ đầy cảm động này:

“Tôi không còn ý định dời ngôi mộ em tôi về bên cạnh cha mẹ tôi. Tôi về quê, quỳ trước mộ cha mẹ để xin phép được xây lại hai ngôi mộ của em tôi và Bá chung trong một vòng thành. Không ai có quyền chia rẽ họ thêm một lần nữa, dù bây giờ chỉ còn là một thế giới vô hình.”

Để thuật truyện, Phạm Tín An Ninh dùng một lối hành văn tự nhiên, giản dị. Nhưng điều này không ngăn được nhiều đoạn lời rất đẹp trong các tác phẩm của ông. Trong “Tiểu Thơ,” truyện ngắn về mối tình đầu tiên trong đời, tác giả cho biết nhân một chuyến từ Na uy sang Mỹ năm 1989, vợ chồng ông tới thăm gia đình một người anh họ ở Sacramento, California. Cùng vợ chồng ông anh đến thăm một ngôi chùa sư nữ để chuẩn bị làm lễ cầu siêu cho người cháu (con ông anh) vừa qua đời, tác giả được sư bà cho biết có nhiều ni cô gốc Nha Trang cũng đang tu tại chùa. Trong bữa cơm chay do nhà chùa khoản đãi, khi được giới thiệu, tác giả đứng dậy chắp tay trước ngực, để giật mình chợt thấy “một đôi mắt thật to, tròn xoe, của một ni cô ở phía cuối bàn.” Sau khi viết thêm, “Ni cô cũng vừa nhìn tôi rồi cúi xuống,” và, “Trên thế gian này, chỉ có ‘Tiểu Thơ’ mới có đôi mắt ấy mà thôi,” tác giả kết thúc truyện như sau:

“Tôi từ giã Sư Bà, trong lúc mắt nhìn quanh như muốn tìm kiếm một điều gì. Nhưng tất cả chỉ có im lặng, ngoài tiếng chuông chùa ngân nga như chẳng bao giờ muốn tan đi trong không gian bao la vô tận.

“Tôi bước ra khỏi cổng chùa. Chùa nằm trên một khu đất bằng phẳng, nhưng sao tôi có cảm giác như mình đang lững thững bước xuống chân đồi. Tôi hình dung đến Ngọc vừa chia tay ‘chú tiểu’ Lan lần cuối cùng ở chùa Long Giáng trong Hồn Bưm Mơ Tiên của nhà văn Khái Hưng, mà ngày xưa ‘Tiểu Thơ’ đã bắt tôi phải kể đi kể lại bao nhiêu lần.”

Truyện “Người bán sách trên bãi biển Nha Trang” vừa tóm lược ở trên đã được kết như sau:

“Cũng như lần trước, ngày cuối cùng, tôi thuê xích lô đi một vòng dọc theo con đường Duy Tân cũ. Con đường đẹp nhất của Nha-Trang. Những cơ sở công quyền, những dinh thự của cán bộ bây giờ được dựng lên nguy nga đồ sộ. Nhìn lá cờ màu đỏ trên mấy nóc nhà, bỗng dưng tôi lạnh toát cả người. Chẳng lẽ những thay đổi ‘to lớn’ ấy phải xây trên máu xương, trên những đớn đau, chia lìa thảm khốc của bao nhiêu thế hệ đã từng một thời góp sức tạo nên cái thành phố hiền hòa thơ mộng này. Bỗng chốc, tôi không còn nhìn thấy thành phố Nha-Trang đâu nữa. Trước mắt tôi bây giờ chỉ còn là một bãi tha ma, dài ra, vô tận. Tôi nghe trong gió văng vẳng tiếng đàn dạo bài ‘Nha-Trang,’ mà ngày xưa đài phát thanh Nha-Trang dùng làm nhạc hiệu mở đầu…”

Để hiểu thêm Phạm Tín An Ninh, thiết nghĩ chúng ta hãy cùng đọc đoạn cuối của “Dòng sông tuổi thơ,” thiên truyện ông viết để ghi dấu ngày giỗ lần thứ 30 của thân phụ ông, một nhà giáo, nhưng cũng bị bắt vào trại “cải tạo” sau biến cố 1975, và đã tạ thế hai năm sau đó, tháng 6 năm 1977:

“Sau này, lần lượt đám con cháu tụi tôi ra tù, tơi tả, mỗi thằng một cảnh long đong. Một vài đứa bị đưa về quản chế tại nơi sinh quán. Bọn tôi lại gặp nhau trên con sông Gốc ngày xưa, nhưng không phải tắm sông hay nô đùa, mà ‘lao động để vinh quang,’ đào đất, đắp đê, làm thủy lợi, dưới sự hò hét của mấy vị nông dân vừa lên nắm chính quyền. Giờ giải lao, bọn tôi gặp nhau, không ai dám nói ‘chuyện linh tinh,’ mà chỉ nhắc lại chuyện thằng cháu chết đuối ngày xưa cũng ở nơi này.

“Rồi mấy ông tù cải tạo lần lượt vượt biên, ra đi theo diện H.O., tha hương lưu lạc bốn phương trời. Mấy ông anh em nông dân bên quê nhà, bây giờ không còn làm chủ một tấc đất, mà được ‘làm chủ tập thể,’ nghèo lại nghèo hơn. Vài năm sau, mấy ông anh em từ hải ngoại về thăm, chung tiền cất nhà từ đường, xây mồ mả ông bà, chú bác, anh em, cho dù đã chết cho bên này hoặc bên kia, và giúp vốn cho mấy ông anh em nông dân đi tìm sinh kế khác. Kẻ mua đìa nuôi tôm, người trồng cây điều hoặc chạy xe ôm.

“Mười lăm năm sau, lần đầu tiên tôi về thăm quê. Một ông anh họ mà lúc nhỏ đánh bi, đẽo vụ hay nhất trong bọn, rủ tôi ra đìa tôm, xem ông làm ăn nhờ tiền của mấy thằng anh em gốc ‘ngụy’ chúng tôi góp cho làm vốn. Anh ghé cái quán nhỏ đầu làng mua một xách bia SaiGon, bảo đem ra đìa nướng tôm, hai thằng nhậu lai rai, rồi kể lại chuyện xưa chơi.

“Không ngờ cái đìa tôm của anh nằm ngay trên con sông Gốc, đúng cái nơi mà thằng cháu họ chết đuối khi đi tắm sông cùng với cả đám bọn tôi năm mươi năm trước. Con sông Gốc không còn nữa. Người ta đã ngăn bằng một cái đập phía trên. Phần dưới đập chỉ còn là những cái đìa tôm, loang lổ đất.

Tôi đứng yên lặng trên bờ đìa, hồi tưởng dòng sông năm xưa và những đổi thay của cả một dòng họ. Xa xa nơi cuối cùng con sông, sóng biển vẫn rì rào…”

Ít lâu sau khi đọc “Ở cuối hai con đường” từ một địa chỉ trên Net, người viết những dòng này có cơ duyên được biết tác giả, đúng lúc ông đang viết “Dòng sông tuổi thơ.” Khi được Phạm Tín An Ninh cho biết ông đang cùng một số thân hữu thu góp các truyện đăng rải rác trên Net cùng một số truyện mới viết để in thành một tập, tôi hân hoan tán thành. Những dòng này được viết trong tinh thần “tằm trả nghĩa dâu,” ghi lại chút tình thanh khí, chút duyên trong văn chương giữa người đọc truyện với tác giả, một người bạn tôi vô cùng quý mến vì đức khiêm nhượng. Rất ao ước sẽ có thể hữu ích phần nào với những vị chưa có hoàn cảnh biết nhiều về Phạm Tín An Ninh.

Hoa kỳ, ngày 8 tháng 4 năm 2008.

Từ Mai Trần Huy Bích

Share and Enjoy:
  • Digg
  • Sphinn
  • del.icio.us
  • Facebook
  • Mixx
  • Google
  • StumbleUpon
  • blogmarks
  • Technorati
  • De.lirio.us
  • Gwar
  • Reddit
  • YahooMyWeb

cô gái quá giang trong đêm mồng một tết

Chiếc thuyền nhỏ mang theo hơn năm mươi người, một nửa là đàn bà và con nít, ra khơi hai ngày thì gặp bão. Chúng tôi may mắn được một chiếc tàu chuyên chở dầu hỏa của Nauy trên đường từ Nhật sang Singapore cứu vớt. Hai ngày sống trên tàu chúng tôi có cảm giác như đang ở trên một thiên đàng. Tất cả đều được tận tình hỏi han chăm sóc. Chúng tôi cảm thấy vừa mừng vừa xót xa khi nhận ra thế gian này vẫn còn có đầy ấp tình người. Họ là những kẻ xa lạ, không cùng màu da, màu tóc, không cùng ngôn ngữ, mà lòng thông cảm yêu thương họ đã dành cho chúng tôi lớn lao biết đến dường nào. Trong lúc những “người anh em” cùng một nhà thì lại hành hạ đuổi xô chúng tôi đến bước đường cùng để phải đành lòng bỏ nước mà đi. Với ân tình đó chúng tôi chọn Vương quốc Nauy là quê hương thứ hai để gởi gấm phần đời còn lại của mình và vun đắp tương lai cho mấy đứa con nhỏ dại. Đọc tiếp…

Share and Enjoy:
  • Digg
  • Sphinn
  • del.icio.us
  • Facebook
  • Mixx
  • Google
  • StumbleUpon
  • blogmarks
  • Technorati
  • De.lirio.us
  • Gwar
  • Reddit
  • YahooMyWeb

nhà thơ Quan Dương: vài dòng nghĩ về anh Phạm Tín An Ninh

Năm 1970, trong một lần về phép tại Ninh Hòa tôi gặp lại chị Trương Thị Thức, bạn học cùng lớp thời trung học tại trường Trần Bình Trọng. Chúng tôi tổ chức một buổi du ngoạn loại bỏ túi tại bãi biển Đại Lãnh cùng một số bạn học cũ. Lúc đó mặc dù tôi đã là lính, đã có thể được gọi là dạn dày sương gió, nhưng gặp lại chị Thức với một số bạn bè tôi vẫn là một tên học trò mặt còn búng ra sữa như ngày nào . Trong lúc chúng tôi đang vui đùa trên bãi biển thì một chiếc xe jeep ngừng lại, một sĩ quan nhỏ nhắn dáng dấp phong sương từ trên xe bước xuống. Chị Thức giới thiệu với chúng tôi đó là ông xã. Anh ghé lại đây khi đang trên đường từ chiến trường An Khê trở về hậu cứ. Và tôi được biết anh Phạm Tín An Ninh từ đó.  Biết là biết thế thôi, tôi và anh Phạm Tín An Ninh phục vụ ở hai đơn vị khác nhau, chúng tôi là những quân nhân, cuộc sống nay chỗ này mai chỗ kia, giữa sự chết và sự sống cách nhau chỉ bằng một lằn ranh mỏng như sợi chỉ. Đời lính quen biết được nhau dù chỉ một lần cũng đã gọi là định mệnh. Năm 1975 anh ở tù ngoài Bắc còn tôi thì tù trong Nam. Trôi dạt xứ người anh định cư tại Na Uy còn tôi ở Mỹ. Xa xôi như thế đâu nghĩ rằng với biết bao thăng trầm mà vẫn có lúc liên lạc lại được với nhau, cho dù mãi đến gần ba chục năm sau

Tuổi đời tôi chỉ là em út của anh Phạm Tín An Ninh, tuổi lính thì anh là huynh trưởng. Khi tôi vừa mang ba lô ra chiến trường thì anh đã dạn dày lửa đạn. Bà xã anh Ninh là bạn học cùng lớp cùng trường của tôi, thiết nghĩ rằng bấy nhiêu yếu tố đó gộp lại thì nó sẽ là sự thuận lợi khiến giữa tôi và anh dễ thân tình gần gũi thấu hiểu nhau hơn. Nhưng thực ra tất cả các điều trên chỉ là phụ. Yếu tố chính đem tôi gần với anh hơn đó là những bài viết, nhưng câu chuyện mà anh đem tâm tình trang trải trên đó. Tôi bắt gặp những niềm đau man mác của chính tôi, tựa hồ tất cả những uẩn khúc trong lòng tôi được anh thấu hiểu, mặc dù truyện của anh được kết nối từ những mảng sống trôi trên dòng đời của chính anh. Anh viết như thể anh đang bơi giữa dòng sông đầy cánh lục bình, anh cố sức quơ tay gom góp lại. Thời còn thơ trẻ tôi say mê Đoạn Tuyệt của Nhất Linh hay Hồn Bướm Mơ Tiên của Khái Hưng. Lối viết truyện của những nhà văn đó khiến cho cảm xúc của tôi cứ man mác suốt ngày. Lớn lên đọc lại tôi vẫn thấy hay nhưng sự man mác  không còn vương vấn nữa. Tôi cứ nghĩ rằng do hoàn cảnh của dòng đời biến chuyển cho nên cảm xúc của mình bị chai lì theo thời gian, tuy nhiên mãi sau này khi tôi có dịp được đọc truyện ” Những Điều Mơ Ước ” của anh Phạm Tín An Ninh thì bất ngờ những cảm xúc tưởng đã không còn kia nay ùn ùn sống lại.  Đọc xong tôi có cảm tưởng như mình vừa nuốt ngược vào trong những giọt lệ ngậm ngùi. Cảm xúc của tôi không khác gì những cảm xúc trước kia khi tôi đọc truyện của nhóm Tự Lực Văn Đoàn. Nhẹ nhàng nhưng thê thiết.  Anh Phạm Tín An Ninh viết văn như thể là anh kể chuyện cho ai đó đang nghe và cũng bởi vì anh kể bằng lối văn quá chân thành nên dễ khiến cho người nghe xúc động.  Hầu hết anh viết về số phận của những người lính sau khi cuộc chiến tàn, những người lính của cả hai miền Nam Bắc. Hai bên có hai con đường đi riêng biệt, để rồi  “Ở cuối hai con đường “,  nhân nghĩa vẫn thắng bạo tàn cho dù những người lính miền Nam đầy nhân bản đã bị bao điều không may buộc họ phải trở thành những người bại trận.

Anh Phạm Tín An Ninh thường tâm sự với tôi và bạn bè anh là anh viết không phải để thành một nhà văn mà chỉ muốn dịu bớt những nỗi đau, vơi đi những gì cứ đè nặng mãi trong lòng anh. Và anh không có ý định in thành sách. Tôi theo năn nỉ anh hết sức bởi vì tôi nghĩ những gì anh viết chính là những câu chuyện  cần được lưu lại cho thế hệ sau này, nếu để bị mai một đi thì rất uổng. Tuy tôi là bạn thân của chị Thức, nhưng lại gần gũi với anh Phạm Tín An Ninh hơn vì trong dòng anh trôi nổi cùng có tôi lềnh bềnh trên đó.  Khi đuợc biết anh quyết định in thành sách, tôi rất mừng vì sau này khi muốn tìm lại chính mình , tôi chỉ cần giở sách anh Phạm Tín An Ninh ra, và tôi nghĩ sẽ không phải chỉ là riêng tôi thấy mình trong đó mà còn có hầu hết những người lính VNCH cùng chung số phận.

New Orleans tháng 12/2007

Quan Dương

Share and Enjoy:
  • Digg
  • Sphinn
  • del.icio.us
  • Facebook
  • Mixx
  • Google
  • StumbleUpon
  • blogmarks
  • Technorati
  • De.lirio.us
  • Gwar
  • Reddit
  • YahooMyWeb

những tác phẩm của Phạm Tín An Ninh

 
icon for podpress  Radio Houston gioi thieu O CUOI HAI CON DUONG: Play Now | Play in Popup

MUA SÁCH

Độc giả muốn mua Tập Truyện Ở Cuối Hai Con ĐườngRừng Khóc Giữa Mùa Xuân, xin liên lạc e-mail : phamtinanninh@yahoo.no

Giá mỗi cuốn: 20 USD + 3 USD bưu phí.

Tại Hoa Kỳ và Canada, chi phiếu (check) xin đề tên Pham Tín An Ninh và gởi về địa chỉ :

Pham Tin An Ninh
10077 Solana Dr
FOUNTAIN VALLEY, CA 92708

MỘT SỐ NHẬN ĐỊNH TRONG LẦN RA MẮT TẬP TRUYỆN Ở CUỐI HAI CON ĐƯỜNG VÀO NGÀY 26.7.08 TẠI NAM CALIFORNIA, HOA KỲ

…..Vì viết văn tử tế nên ông là người tử tế, đi đến đâu cũng có bạn bè, nào là bạn học suốt dọc miền duyên hải quân khu 2, bạn lính trên cao nguyên, bạn tù ở miền Bắc và bạn vượt biên ở bốn phương trời. Bây giờ trong số các nhà văn viết muộn mà nổi tiếng sớm ta có Phạm Tín An Ninh. Nếu không tính đến cuốn sách chúng tôi giới thiệu vừa mới in xong tại San Jose thì ông lại là một nhà văn chưa có tác phẩm. Có phải không? Vì vậy tác giả thật sự có vẻ ngại ngùng khi được gọi là nhà văn.

Bây giờ lại được gọi là Người Viết Văn Tử Tế thì e rằng ông Phạm Tín An Ninh hết sức quản ngại. Vì vậy nên chúng tôi không đi xa vào tác phẩm. Xin để quí vị độc giả tự khám phá xem “Văn Chương Tử Tế” như thế nào? Dù sao, chắc chắn với tác phẩm đầu tay như thế này, tác giả sẽ là người may mắn. Đi đến đâu cũng sẽ gặp toàn bạn bè và độc giả tử tế.

GIAO CHỈ ( San Jose)

…..Đây là một buổi giới thiệu sách mới thành công về cả hai mặt, tài chánh và tình cảm giữa tác giả và người đọc làm ấm lòng một nhà văn đến từ Vương Quốc Na Uy xa xôi. Tác giả Phạm Tín An Ninh là một người được rất nhiều sự yêu mến của bạn đọc ở khắp nơi, nhiều bà cụ già đã đi bộ từ nhà dưỡng lão đến gặp tác giả mua sách, hay trường hợp môt gia đình từ Hawaii, có hoàn cảnh bị đánh tư sản mại bản như nhân vật Vương Chu Khánh Hà trong sách đã đến gặp Phạm Tín An Ninh để nói một lời cám ơn chân tình về những điều tác giả đã viết trong sách.

HUY PHƯƠNG ( Thời Báo)

……Sứ mạng cao cả của tiểu thuyết gia là làm sống mãi một cách linh động những dấu vết của cuộc sống thực của một giai đoạn lịch sử nào đó mà chính tác giả đã từng sống qua, hay đã từng là chứng nhân. Tiểu thuyết gia là sử gia của thời hiện tại (Le romancier est un historien du present) như một nhà văn Pháp đã nói. Những tiểu thuyết nổi tiếng đều ít nhiều phản ảnh trung thực lịch sử của thời đại của tác giả. Ở địa hạt này Phạm Tín An Ninh là một tiểu thuyết gia thành công.

….Với câu chuyện “Ở Cuối Hai Con Đường”, Phạm Tín An Ninh không giảng đạo, không viết một bài học đạo đức luân lý nào trong tác phẩm của anh. Anh cũng không triết lý dài dòng. Anh chỉ viết ra một câu chuyện khá đặc biệt, khá ly kỳ, lôi cuốn người đọc từ đầu đến cuối. Và câu chuyện của anh mang đến cho độc giả một thông điệp đầy nhân bản tính: con người trên hết, hãy đối xử với nhau bằng tình người. Được hấp thụ nền giáo dục nhân bản, được trưởng thành trong xã hội văn hóa nhân bản của Miền Nam tự do, và được định cư tại Na Uy nơi mà người dân và chánh quyền đã bảo trợ, giúp đỡ người tỵ nạn một cách hết sức lịch sự, hết sức nhân đạo, bằng tất cả tình người, tác giả đã nuôi dưỡng trong tâm một triết lý sống đầy tình người, vô cùng nhân bản. Anh đã thể hiện triết lý nhân bản đó trong tác phẩm của anh.

GS NGUYỄN THANH LIÊM (California)

….Đến nay, tên tuổi Phạm Tín An Ninh đã nghiễm nhiên đi vào dòng văn chương Việt hải ngoại, và độc giả mến mộ anh ngày càng nhiều.

…..Những câu chuyện được viết bằng một giọng văn hòa ái, giản dị nhưng không kém phần trau chuốt, cốt chuyện thì rất mạch lạc, với kết thúc bất ngờ, trọn vẹn và nhiều ý nghĩa, gợi lên trong lòng độc giả một niềm thương cảm sâu xa.

….Đọc hết tập truyện, độc giả có thể cảm thấy rất thân thuộc với tác giả và có một hiểu biết khá tường tận về những sinh hoạt của miền Trung và Nam Việt Nam, cũng như hiểu hơn về cuộc chiến và những người lính cũ Người đọc cũng dễ dàng tin tưởng những chuyện đã kể là chuyện thật trăm phần trăm, dù tác giả không hề tuyên bố như vậy mà chỉ để là tập truyện ngắn.

….Nếu bạn đọc hết cuốn sách Ở Cuối Hai Con Đường, có thể bạn sẽ tìm ra nhiều điều thú vị trong cuốn sách đầy tình người này.

NGUYỄN LINH GIANG (Nhật Báo Viễn Đông)

….Đọc Phạm Tín An Ninh, ai cũng có thể tìm thấy mình trong đó để mà tiếc nuối, hờn tủi, trách cứ, phẫn nộ và thương xót cho đất nước, cho dân tộc, cho bạn bè, cho vợ con và cho chính bản thân mình.

Tác giả Phạm Tín An Ninh đã trở thành một nhà văn ngoài dự liệu của bản thân ông. Ông viết truyện để giải tỏa những trăn trở và gởi gấm đến độc giả một thông điệp. Thông điệp đó là Chỉ có cái tình con người với nhau mới thực sự quí giá và tồn tại với thời gian …

GS LƯU TRUNG KHẢO (California)

….Ông không bao giờ nghĩ mình là nhà văn nhưng Ông sẽ tiếp tục viết lại những gì còn trong Ông với tấm lòng của một người Việt nam tha phương. Ông hy vọng những chuyện kể của Ông cũng sẽ làm vơi đi những dằn vặt trong tâm tư của mỗi người chúng ta..

…Cũng nên nhắc lại trước đây những truyện của Phạm Tín An Ninh đăng rải rác đã làm nhiều người đọc rất ưa thích lối văn giản dị của Ông. Nhà Văn Phan Nhật Nam đã nói với bè bạn rằng: “Phạm Tín An Ninh là một hiện tượng trong lối viết hiện nay.” Thật vậy đọc “Ở Cuối Hai Con Đường” để thấy một phần đời mỗi người của chúng ta trong truyện của Ông viết.

CỔ NGƯU (Việt Báo)

….Chỉ một thời gian rất ngắn, sau khi những truyện ngắn đầu tiên được đăng tải trên tuần báo chúng tôi, bốn chữ “Phạm Tín An Ninh” trở thành đề tài được mọi người, nhất là giới văn nghệ sĩ ở hải ngoại nhắc nhở và biết đến.

Tên tuổi của Phạm Tín An Ninh trở thành một hiện tượng mới lạ trong vườn hoa văn học hải ngoại, ngay những bước đầu tiên của cái nghiệp văn chương đã để lại dấu ấn đối với mọi người.

Sở dĩ Phạm Tín An Ninh mau chóng có chỗ đứng trong vườn hoa văn học hải ngoại do bởi văn phong rất đặc biệt của tác giả.

TIN VIETNEWS (San Jose)

Share and Enjoy:
  • Digg
  • Sphinn
  • del.icio.us
  • Facebook
  • Mixx
  • Google
  • StumbleUpon
  • blogmarks
  • Technorati
  • De.lirio.us
  • Gwar
  • Reddit
  • YahooMyWeb

nếu đi hết biển

Mai này nếu lỡ đi hết biển
Biết tôi còn có chỗ để quay về
Như mọi người tôi cũng có một trời quê
Sao tôi phải đi hoài cho hết biển ?
Ở nơi đó, từ khi cơn quốc biến
“Chùm khế quê hương” tôi chưa hái trái ngọt bao giờ

Dẫu xót xa từ thuở cách đôi bờ
Tôi vẫn thiết tha mong từng ngày trở lại
Tôi nhớ lắm dòng sông thời thơ dại
Cánh diều bay, lớp học dưới hiên đình
Đã cho tôi biết mấy những ân tình
Từ ông cha, bà con, anh em, thầy bạn
Tôi lớn lên suốt một thời lửa đạn
Biết khóc biết cười theo mệnh số của quê hương
Vận mệnh quê tôi - từng trang sử đau thương
Được viết bởi chính những người anh em cùng chung một mẹ

Hết chiến tranh tôi đành gửi thân nơi xứ lạ
Bởi quê nhà không còn chỗ dung thân
Nào có ai muốn sống kiếp lưu vong
Để đi mãi đi hoài mà vẫn chưa hết biển
Xin hãy nói dùm tôi - một lời lương thiện
Dẫu có chết ở đâu hồn tôi cũng quay về
Bởi như mọi người - cũng có một trời quê
Sao tôi phải đi hoài cho hết biển?

Phạm Tín An Ninh
Cali., Ngày Cuối Năm 2004
Sau khi đọc “ Nếu Đi Hết Biển” của nhà làm phim Trần Văn Thủy

Share and Enjoy:
  • Digg
  • Sphinn
  • del.icio.us
  • Facebook
  • Mixx
  • Google
  • StumbleUpon
  • blogmarks
  • Technorati
  • De.lirio.us
  • Gwar
  • Reddit
  • YahooMyWeb

gởi o Huế bên trường Nữ ngày xưa

O sinh ra tận mô ngoài Huế
Hà cớ gì trôi dạt tới Nhatrang
Để một  thằng “Võ Tánh” phải lang thang
Đem cây si trồng trước sân trường Nữ

Tôi phải lòng O, khi O còn đệ thất
Nón trắng, áo dài - trắng cả mùa thu
O đạp xe đi hồn nhiên quá đỗi
Cuốn hồn tôi theo vào cõi sa mù

Cũng tại vì O mà tôi biết yêu
Tập viết thư tình từ năm đệ ngũ
Đọc thư tôi làm sao O hiểu
Cái nghĩa yêu đương mù mịt quá chừng

Khi O biết yêu thì tôi đi lính
Lời tỏ tình chưa nói trọn câu
Đời lính chiến rày đây mai đó
Sáng ở bưng biền - tối cuối rừng sâu

Những chiều dừng quân đọc thư O gởi
Quay quắt nhớ về một thuở Nha Trang
Sân trường xưa - con đường cũ - gốc cây bàng
O đứng đó chờ gã khờ đến đón

Rồi mấy năm sau O trở thành người lớn
Tôi vẫn là thằng lính chiến ngày xưa
Vẫn núi rừng -  vẫn sáng nắng chiều mưa
Vẫn da diết nhớ O qua bao mùa sim tím nở

Còn O, trong  giảng đường mô nớ
Chắc bận  học hành nên chẳng còn nhớ đến tôi
Tôi âm thầm tự trách chính mình thôi
Ai bảo mới nhỏ xíu mà theo O trồng cây si chi rứa !

Hết chiến tranh ta lạc mất nhau
O cùng ai đó bước qua cầu
Tôi  bất ngờ thành người bại trận
Bước vào tù theo cuộc biển dâu

Đúng hai mươi năm, tôi trôi giạt xứ người
Còn O lưu lạc nơi nào chẳng biết
NhaTrang xưa giờ trùng khơi  cách biệt
Dưới cây bàng - có còn ai đứng đợi để về thăm ?

Thời gian qua -  đã hơn bốn mươi năm
Mà hình bóng O vẫn còn theo tôi mãi
NhaTrang ơi - xin trả lại tôi một thời thơ dại
Để tôi khỏi phải chạy hoài theo một bóng mây bay

Nếu có về Houston - trong Hội Ngộ lần này
Liệu O còn nhận ra tôi - gã khờ lúc trước
Quả đất có tròn thật không - nào ai biết đuợc
Vật đổi sao dời - còn bao nhiêu bạn cũ với thầy xưa?

Và tôi cũng sẽ về để tìm  lại trong mơ
Sẽ lang thang đi khắp chỗ - đợi  chờ
Một giọng Huế rất chi là dễ thương ngày nớ
Trong đám bạn bè mình gọi đúng tên tôi..(*) xưa

Về đây tìm lại - người ơi
Bao nhiêu  kỷ niệm một thời đáng  yêu
Tóc pha sương - đẫm nắng chiều
Về đây - mang tuổi thơ theo với mình

phạm tín an ninh

(viết nhân ngày Hội Ngộ liên trường
Võ Tánh & Nữ Trung Học Nha Trang
tại Houston, Texas mùa hè 2006)

(*)nick name

Share and Enjoy:
  • Digg
  • Sphinn
  • del.icio.us
  • Facebook
  • Mixx
  • Google
  • StumbleUpon
  • blogmarks
  • Technorati
  • De.lirio.us
  • Gwar
  • Reddit
  • YahooMyWeb

trời mưa cali

Cali mưa, tầm tã mưa
Trời buồn như thuở anh vừa gặp em
Giá như đừng có ban đêm
Anh ngồi ngắm mãi bên thềm giọt mưa
Anh ngồi nhớ chuyện ngày xưa
Nhớ rồi xa xót những mùa mưa qua
Còn gì trong cuộc tình ta
Giọt mưa rơi xuống có là hư không ?
Những cơn mưa cuối mùa đông
Thường làm cho sợi tơ hồng trôi đi

Mấy tuần em đến Cali
Trời mưa tầm tã tại vì có em.

Phạm Tín An Ninh

Share and Enjoy:
  • Digg
  • Sphinn
  • del.icio.us
  • Facebook
  • Mixx
  • Google
  • StumbleUpon
  • blogmarks
  • Technorati
  • De.lirio.us
  • Gwar
  • Reddit
  • YahooMyWeb

ở đây dài lắm mùa đông

Quê nhà khắc khoải trong tim
Hai mươi năm ngỡ như nghìn thu qua
Bao đêm vàng võ trăng tà..
Ta ngồi uống chén rượu pha nỗi sầu
Vết thương năm cũ còn đau
Thời gian - nước chảy qua cầu nào hay
Mộng đời tựa đám mây bay
Súng gươm bỗng chốc một ngày thành không
Nửa đời sống kiếp lưu vong
Ðêm thao thức giấc ngày mong qua ngày
Dẫu tìm được những cơn say
Cũng không vơi bớt đắng cay trong lòng
Ở đây dài lắm mùa đông
Ta thèm một vạt nắng hồng quê hương

Phạm Tín An Ninh
Ðầu tháng 11-2003

Share and Enjoy:
  • Digg
  • Sphinn
  • del.icio.us
  • Facebook
  • Mixx
  • Google
  • StumbleUpon
  • blogmarks
  • Technorati
  • De.lirio.us
  • Gwar
  • Reddit
  • YahooMyWeb

gặp lại bạn xưa

Từ Bắc Âu sang Cali thăm con
Bất ngờ gặp lại mày giữa Little Saigon
người đông như hội
Hơn 30 năm rồi mày vẫn nhận ra tao
Dù bây giờ cả hai thằng đều già nua quá đỗi
Mày - thằng pilot trực thăng
một thời hào hoa sôi nổi
Giữa mùa hè 1972
đã bốc tao ra từ vùng lửa khói
giặc vây cả tuần trên đỉnh Ngok Wangk
đèo heo gió thổi
Còn tao - thằng lính bộ binh rẻ mạt hết thời
Ðầu mùa mưa 1973
dù chưa có lệnh “Mặt Trời” (1)
dám đem cả tiểu đoàn cứu mày
rớt tàu ở tuyến đầu Võ Ðịnh
Nợ nần vừa huề nhau, tao bị thương
mày bất ngờ nhận lệnh
thuyên chuyển về căn cứ Phan Rang
Chiến cuộc tiếp tục leo thang
Cho đến lúc tan hàng, hai thằng vẫn chưa kịp
kết tình tri kỷ
Sau 30 năm trên địa hình bao la nước Mỹ
Không có bản đồ mày vẫn tìm được
điểm đứng của tao
Ngày xưa, khi bay bỗng trên cao
Mỗi lần tìm tao mày đều xin cho mày
một “nàng Thúy Kiều áo đỏ” (2)
Lac. Long ơi, bây giờ Bắc Ðẩu tao còn nghe mày
năm trên năm - rất rỏ
Giọng nói của mày vẫn hào khí như xưa
Cali, tháng sáu, trời còn mưa
Ngồi trong quán cà phê
Tao cứ ngỡ như ngày nào ở bãi B15
Hai thằng chờ đến giờ G
Mày đổ quân tao vào Chu Pao, Trung Nghĩa
Ngồi giữa Kontum hoang tàn khói lửa
Tao với mày chia nhau từng ngụm cà phê
Cuộc chiến buồn lê thê
Tao leo núi lội rừng không biết ngày về
Mày đổ quân, bao vùng, coi bầu trời như
cái sân trường thời còn đi học
Một thời tung hoành ngang dọc
Có thằng nào nghĩ đến phút cuối tang thương
Tao vào tù- Mày bay tàu lần cuối ra đại dương
Ðể 30 năm mất quê, lưu lạc
Giờ ngồi đây, nhắc nhau một thời trận mạc
Mày tiếc bầu trời của mày
Tao nhớ rừng núi của tao
Ðiểm danh đám bạn bè, ai còn ai mất
Ðứa ở quê nhà khổ nghèo, thương tật
Thằng ra đi cũng đủ thứ trần ai
Ðau đớn thay, những thằng lính chưa một lần chiến bại
Mà cuối cùng phải đành đập tàu, bẻ súng
Mày uống đi - Cà phê có đường sao tao thấy đắng
Giữa Little Saigon tao bỗng nghe tiếng rừng núi lao xao
Lạc Long ơi - Tao đang ở hướng hai giờ
Mày có nhận ra tao
Mày đáp đi - Tao đã cho mày một “nàng Thúy Kiều aó đỏ” (2)

Phạm Tín An Ninh
Cali 13.06.03

(1) Cấp chỉ huy
(2) Trái khói màu đỏ

Share and Enjoy:
  • Digg
  • Sphinn
  • del.icio.us
  • Facebook
  • Mixx
  • Google
  • StumbleUpon
  • blogmarks
  • Technorati
  • De.lirio.us
  • Gwar
  • Reddit
  • YahooMyWeb

chiều chủ nhật đọc thơ quan-dương

Ðọc bài thơ, chủ nhật buồn
Bài thơ ai viết đoạn trường đầy vơi
Bài thơ dâu biển đổi đời
Bài thơ tù ngục một thời lầm than

Bài thơ như có nạm vàng
Thương quê khóc mẹ tình tang ví dầu
Có bài thơ chỉ đôi câu
Mà nghe như một cõi sầu nhân gian

Bài thơ cốt nhục tương tàn
Nghe trên thân xác trăm ngàn vết thương
Mỗi vần thơ một thê lương
Thơ rơi nước mắt vương vương một đời

Níu mây xin hỏi thăm trời
Chim nào đau đớn hót lời xót xa
Ðể ta nhìn thấy lại ta

Từ trong thơ ấy như là chiêm bao

Gấp tập thơ, nghe lao xao
Có cơn gió buốt bay vào hồn ta

Đất một  gần trời một xa
Bao lần được khóc như là chiều nay !

pham tín an ninh

chủ nhật 18.5.2003

Share and Enjoy:
  • Digg
  • Sphinn
  • del.icio.us
  • Facebook
  • Mixx
  • Google
  • StumbleUpon
  • blogmarks
  • Technorati
  • De.lirio.us
  • Gwar
  • Reddit
  • YahooMyWeb

bạn đằng đông tôi đằng tây

“Tôi  đằng đông, bạn đằng tây”
Bài thơ bạn gởi trùng vây tôi rồi
Tôi đi bỏ lại góc trời
Trường xưa bạn cũ mù khơi dặm trường
Có gì như sợi tơ vương
Vui buồn thương nhớ vô thường trong tôi
Mịt mờ kỷ niệm ngàn khơi
Thương cho giấc mộng một thời kiếm cung
Nhớ xưa rừng núi chập chùng
Bạn bè một thuở vẫy vùng còn đâu

Kể từ một cuộc biển dâu
Bạn - tôi lạc giữa cõi sầu mênh mông
Bao năm mưa nắng đằng đông
Có làm bạn tiếc dòng sông thuở nào
Miếng cơm manh áo nát nhàu
Tôi đây cũng có nỗi sầu đằng tây
Bạn - tôi như nhạn lạc bầy
Nhớ khung trời cũ, nhớ ngày vui xưa
Nhớ ngày nắng, nhớ đêm mưa
Ba mươi năm tưởng như vừa đâu đây

Biển đưa tôi về đằng tây
Ðằng đông còn laị bạn, thầy, nắng mưa

Phạm Tín An Ninh
Tặng Phạm Dạ Thủy
(tác giả bài thơ ” Bất Ngờ Tuổi Thơ “)

Share and Enjoy:
  • Digg
  • Sphinn
  • del.icio.us
  • Facebook
  • Mixx
  • Google
  • StumbleUpon
  • blogmarks
  • Technorati
  • De.lirio.us
  • Gwar
  • Reddit
  • YahooMyWeb

đêm nằm nghe em hát

Tiếng em hát, đêm ngậm ngùi
Lòng anh bằng cả đất trời hoang vu
Não nùng như giọt mưa thu
Hồn anh lạc nẻo sương mù xa xăm

Tiếng em hát, trời bâng khuâng
Bỗng dưng anh thấy bàng hoàng nhớ ai
Ru anh thêm giấc mộng dài
Trả anh về với cơn say mịt mùng

Tiếng em hát, lạnh hư không
Đưa anh vào cuộc phong trần ngày xưa
Mộng đời trôi giữa cơn mưa
Tháng tư ngày đó như vừa mới đây

Tiếng em hát, gió ngất ngây
Có con chim nhỏ lạc bầy gọi anh
Dư âm khúc hát quân hành
Sao nghe buồn quá, cũng đành vậy thôi

Tiếng em hát, mây ngừng trôi
Thời gian dừng lại, cõi người huyễn mơ
Quê hương xa thẳm mịt mờ
Anh, con thuyền nhỏ dật dờ biển xa

Phạm Tín An Ninh
Chủ nhật 18.05.03

Share and Enjoy:
  • Digg
  • Sphinn
  • del.icio.us
  • Facebook
  • Mixx
  • Google
  • StumbleUpon
  • blogmarks
  • Technorati
  • De.lirio.us
  • Gwar
  • Reddit
  • YahooMyWeb

Radio Houston: giới thiệu Ở Cuối Hai Con Đường

 
icon for podpress  RADIO: Houston gioi thieu O CUOI HAI CON DUONG: Play Now | Play in Popup

Xin click de nghe Dai Phat Thanh Nguoi Viet Houston, Texas.

Share and Enjoy:
  • Digg
  • Sphinn
  • del.icio.us
  • Facebook
  • Mixx
  • Google
  • StumbleUpon
  • blogmarks
  • Technorati
  • De.lirio.us
  • Gwar
  • Reddit
  • YahooMyWeb

Video: Ra Mắt Tập Truyện “Ở Cuối Hai Con Đường”, nhà văn Phạm Tín An Ninh

Tin Little Saigon, 26/7/08- Vào ngày hôm thứ bảy đã diễn ra buổi ra mắt sách của nhà văn Phạm Tín An Ninh từ Na Uy, với tác phẩm truyện ngắn cuối hai con đường, tổ chức tại phòng hội nhật báo Viễn Ðông trong khu vực Little Saigon.

Tập Truyện Ở CUỐI HAI CON ĐƯỜNG. Gồm những bài viết về quê hương, tình yêu, tình người và thân phận những người lính VNCH qua một thời chiến tranh, tù ngục và lưu lạc tha phương.

New book released by author Phạm Tín An Ninh with the title “Ở Cuối Hai Con Đường”(”By the End of Two Roads”). 100% of the proceeds from this book is going to charity to help the Vietnam war veterans. Ở Cuối Hai Con Đường; a memoir describing the astonishing, stirring stories of patriotism, love, the quality of being human and the inevitable events predestined by the Vietnam war and the fall of Saigon. It is inspiring, emotional, and will deeply touch every reader’s soul.

-Quynh Ngoc Pham, August 03, 2008.

Share and Enjoy:
  • Digg
  • Sphinn
  • del.icio.us
  • Facebook
  • Mixx
  • Google
  • StumbleUpon
  • blogmarks
  • Technorati
  • De.lirio.us
  • Gwar
  • Reddit
  • YahooMyWeb

chim quyên ăn trái nhãn lồng

(tặng Quan Dương)

Chim quyên ăn trái nhãn lồng
Mà sao trong dạ vẫn còn vấn vương
Ngày xưa, nói dối - không thương
Cớ sao lại vận tơ vương vào lòng ?

Bảo người thôi chớ chờ mong
Ta về giữ kỹ thư hồng người trao
Gặp người giữa giấc chiêm bao
Lia thia trong chậu xanh xao nỗi buồn

Xưa - người mến lá sân trường
Giờ - ta đắm đuối trong vườn thơ ai ?
Sông Dinh nào chảy làm hai
Ðể cho con sáo nhớ hoài bến đưa

Hôm nào trở lại trường xưa
Dường như trời đất cũng vừa đổi tên
Con đường “quốc lộ” chênh vênh
Ta đi, đi giữa bồng bềnh nhớ nhung..

phạmtínanninh

Share and Enjoy:
  • Digg
  • Sphinn
  • del.icio.us
  • Facebook
  • Mixx
  • Google
  • StumbleUpon
  • blogmarks
  • Technorati
  • De.lirio.us
  • Gwar
  • Reddit
  • YahooMyWeb

Audio Book: Thằng bé đánh giày người Nghĩa Lộ

 
icon for podpress  Audio Book:THẰNG BÉ ĐÁNH GIÀY NGƯỜI NGHĨA LỘ: Play Now | Play in Popup

Bấm vào PLAY NOW để nghe đọc truyện Thằng bé đánh giày người Nghĩa Lộ. Do Thu Sương (Pháp Quốc) đọc và hát.

Share and Enjoy:
  • Digg
  • Sphinn
  • del.icio.us
  • Facebook
  • Mixx
  • Google
  • StumbleUpon
  • blogmarks
  • Technorati
  • De.lirio.us
  • Gwar
  • Reddit
  • YahooMyWeb

Audio Book: Trên Chiến Trường Xưa

 
icon for podpress  Audio Book: Trên Chiến Trường Xưa: Play Now | Play in Popup

Xin click vào PLAY NOW để nghe đọc bài Trên Chiến Trường Xưa. Do Thu Sương (Pháp Quốc) đọc và hát.

Share and Enjoy:
  • Digg
  • Sphinn
  • del.icio.us
  • Facebook
  • Mixx
  • Google
  • StumbleUpon
  • blogmarks
  • Technorati
  • De.lirio.us
  • Gwar
  • Reddit
  • YahooMyWeb

Audio Book: Rừng Khóc Giữa mùa Xuân

 
icon for podpress  Audio Book: Rừng Khóc Giữa mùa Xuân: Play Now | Play in Popup

Bấm vào PLAY NOW để nghe đọc truyện Rừng Khóc Giữa mùa Xuân. Do Thu Sương (Pháp Quốc) đọc và hát.

Share and Enjoy:
  • Digg
  • Sphinn
  • del.icio.us
  • Facebook
  • Mixx
  • Google
  • StumbleUpon
  • blogmarks
  • Technorati
  • De.lirio.us
  • Gwar
  • Reddit
  • YahooMyWeb